
Tôi nhớ mãi một ngày năm 1972. Mùa hè đỏ lửa. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và Chuẩn Tướng KQ Nguyễn Huy Ánh xuống thăm đơn vị tôi, một Chi Đoàn Thiết Kỵ, đang nằm dưỡng quân. Ông không vui, gương mặt vốn khắc khổ nay thêm nhiều nét lo âu. Chúng tôi không được báo trước nên hết sức ngạc nhiên, bởi vì có sao xẹt ngang là mấy thằng em sẽ khổ. Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá mỗi khi về Châu Đốc thăm Đại Tá Nguyễn Văn Của, Tỉnh Trưởng Châu Đốc thì hay ghé ngang đơn vị tôi. Tại sao mấy Ông hay ghé thăm thì tôi không biết, nhưng tôi biết chắc là mấy Ông Mặt Trời rất khoái đơn vị tôi, một đơn vị chưa hề chiến bại. Những trận đánh đêm tuyệt vời đã làm cho các Mặt Trời khoái chí. Lính tác chiến thường không thích đón tiếp Mặt Trời. Khi Mặt Trời ghé ngang thì chúng tôi phải lau chùi xe cộ sạch sẽ, mà những con cua tác chiến tại Vùng 4 thì lúc nào cũng sình lầy dơ bẩn. Cua nào bị thương nhưng còn đánh trận được thì đem đi dấu. Lính tráng phải quần áo chỉnh tề sạch sẽ. Bây giờ một Ông Tướng xếp xòng Quân Đoàn ghé qua chơi, giữa chiến trường không bàn không ghế, không phóng đồ hành quân, không que chỉ bảng nhất là không kèn không trống, không hàng quân danh dự đón chào. Không hiểu vì Ông bình dân vui tính hay hòa đồng với lính mà Ông ngồi xuống đất. Câu đầu tiên Ông hỏi xếp tôi, Đại Úy Trương Văn Điền, Chi Đoàn Trưởng, Chi Đoàn 3/2 Thiết Kỵ, đang đứng cứng người trong tư thế chào kính “Nghe nói đơn vị của Anh chì lắm phải không?”. Xếp tôi trình Trung Tướng tinh thần anh em binh sĩ rất cao, dù đang dưỡng quân nhưng lúc nào cũng “văn ôn võ luyện”. Tôi đang đứng phía sau xếp thì nghe Trung Tướng Ngô Quang Trưởng cho biết sẽ điều động đơn vị tôi và Biệt Động Quân đi giải cứu một lực lượng Quân Đoàn IV gồm một Liên Đoàn Biệt Động Quân và hai Thiết Đoàn 12 và 16 Kỵ Binh thuộc Lữ Đoàn IV Kỵ Binh đang bị bao vây ở Kompong Trạch. Một Thiết Đoàn trừ và một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân đi làm một nhiệm vụ quá cỡ! Sau khi ra lệnh ngắn gọn, Ông lên trực thăng với lời chúc may mắn. Chúng tôi chuẩn bị lên đường vượt biên. Phải nói là dù biết rằng có thể toàn bộ Chi Đoàn sẽ bị kẻ thù tiêu diệt, nhưng chúng tôi rất nô nức đi làm nhiệm vụ mà vị Tướng Quân Đoàn giao phó. Ngày xưa không biết cảm nghĩ Kinh Kha sang Tần thế nào, nhưng chuyến một đi không trở lại nầy của chúng tôi dấy lên trong lòng chúng tôi một niềm tự hào tuyệt vời. Ba Sư Đoàn chính quy CS sao vàng, sao đỏ, sắt thép gì đó tăng cường các Trung Đoàn Pháo, Đặc Công đang chờ đợi một đơn vị quá nhỏ bé trong một chiến trường quá lớn. Đơn vị tuy nhỏ nhưng dũng cảm oai hùng, bách chiến bách thắng. Ba ngày đầu quân đi như gió bão, không một sức mạnh nào cản nổi. Chiến lợi phẩm bỏ lại phía sau. Quân đi như trẩy hội, giống như đoàn Tượng Binh của Vua Quang Trung đang tiến về Bắc Hà tiêu diệt Quân Thanh. Ngày thứ tư chúng tôi phải rút lui về điểm xuất phát Hà Tiên. Chiến trường kinh khiếp từ ngày đó. Nhiều chiến sĩ Kỵ Binh đã anh dũng nằm xuống. Xếp tôi dù mới là Đại Úy nhưng đã chứng tỏ một bản lĩnh, một tài thao lược hơn người trãi qua những chiến trận Mậu Thân và các cuộc hành quân vượt biên sang Cambodia. Xếp đã đưa được đoàn cua sắt bắt tay với lực lượng Quân Đoàn IV đang chờ đợi từng giờ từng phút. Đây là một chiến thắng vang dội của đơn vị tôi. Rất tiếc là Tướng Trưởng đã được điều động ra Quân Đoàn I và Quân Khu I để chỉ huy tái chiếm Cổ thành Quảng Tri trước khi Chi Đoàn 3/2 Thiết Kỵ của chúng tôi bắt tay Lực lượng Quân Đoàn IV. Trong chiến trận Mậu Thân, chính Tướng Trưởng – lúc đó là Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh – đã gọi cho Thiếu Tá Nguyễn Hóa Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn 2/7 Thiết Kỵ phải tức tốc mang Chi Đoàn về giải vây cho Ông đang cố thủ trong thành Mang Cá. Thiếu Tá Nguyễn Hóa đã vượt đèo vượt suối, qua không biết bao nhiêu là chốt chận, đã làm được một chiến tích lẫy lừng, không Bộ Binh tùng thiết, không trinh sát cơ dẫn đường đã từ Quảng Trị ngày đêm đánh Đông dẹp Bắc để bắt tay cùng Tướng Trưởng. Tôi không hiểu Tướng Trưởng nghĩ gì về binh chủng Thiết Giáp chúng tôi. Nhưng những khi Ông lâm vào tình trạng nguy hiểm thì có ngay chúng tôi đến tiếp cứu. Khi Ông còn là Tư Lệnh Quân Đoàn IV thì lúc nào Ông cũng đầu đội nón sắt, đeo một bi đông nước và một cái xẻng để làm gương cho tất cả binh sĩ thuộc Quân Đoàn IV. Tất cả quân nhân các cấp dưới quyền đều kính phục Ông bởi Ông không mưu bá đồ vương, không tham vọng chính trị chỉ là một quân nhân gương mẫu, thanh liêm và có tài thao lược. Họ đã cùng Ông xông pha trận mạc, tạo những chiến thắng vẻ vang cho Quân Đoàn IV. Sau khi được đưa ra Quân Đoàn I và Quân Khu I thay thế Tướng Hoàng Xuân Lãm để chuẩn bị chiến dịch Lôi Phong tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Dù ở xa xôi nhưng hằng ngày qua báo chí chúng tôi vẫn như đang theo chân các đơn vị Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Sư Đoàn 1 BB và Lữ Đoàn I Kỵ Binh để cùng chung cất cao hát bài Cờ Bay Trên Thành Phố Thân Yêu Vừa Chiếm Được Đêm Qua Bằng Máu. Ông đã làm cho thế giới phải kính phục QLVNCH bằng chiến thắng Cổ Thành Quảng Trị mà các chiến sĩ anh hùng của chúng ta đã phải 1 chống 5. Tướng Quân Ngô Quang Trưởng và các chiến sĩ tổng trừ bị QLVNCH đã viết thêm một trang trong dòng chiến sử oai hùng mà tổ tiên chúng ta đã viết hơn 4 ngàn năm trước.
Khi TT Nixon đã bắt tay Mao xếnh xáng, nâng ly rượu Mao Đài thì số phận miền Nam đã định đoạt. Chiến tranh VN một thời là tin tức nóng bỏng thế giới khi mà “đồng minh” đã quay lưng bỏ mặc 17 triệu dân miền Nam cho bầy quỷ dữ Cộng sản thì QLVNCH đã bị bức tử không thương tiếc. Cho nên Tháng Ba kinh khiếp. Tháng Ba oằn oại đau thương. Tháng Ba uất hận nghẹn ngào. Tháng Ba gãy súng. Tháng Ba lệ đổ chứa chan. Tháng Ba quay cuồng lo sợ. Tháng Ba hoảng loạn tứ bề. Tướng quân Ngô Quang Trưởng đã phải ngậm ngùi đau đớn bỏ lại miền đất mà Ông đã cùng quân dân vùng địa đầu giới tuyến đã đổ máu đổ mồ hôi giữ gìn, kiên quyết không nhượng một tấc đất nào cho CS. Thế nước đã ngả nghiêng một mình phải chống chọi cùng loài quỷ đỏ, cả một khối CS chỉ chờ có thế. Sức cùng lực tận. Đồng Minh ngày nào nay biến thành ông chủ bủn xỉn chỉ nghĩ đến quyền lợi mà chối bỏ lời cam kết đi đến chiến thắng cuối cùng. Lệnh lạc bất nhất từ Dinh Độc Lập, từ vị nguyên thủ quốc gia mà đầu óc đã hoảng loạn từ ngày 10 tháng 3 năm 1975. Ông làm gì được nên đành liều mình bơi ra biển khơi tìm sinh lộ xuôi Nam. Chính điều đó đã nói lên Ông đã ở lại cùng ba quân tướng sĩ đến giờ phút cuối cùng. Nhất quyết không chịu lên trực thăng xuôi Nam như nhiều cấp chỉ huy khác. Tôi thật kính phục Ông vô cùng.
Bây giờ linh hồn Ông đang bay về quê hương, đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa để sum họp cùng các chiến hữu dưới chân Nghĩa Dũng Đài. Ông đưa tay chào kính trình diện Đại Tướng Đỗ Cao Trí và Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh, Ông thân mật tay bắt mặt mừng những chiến sĩ Sinh Vi Tướng Tử Vi Thần, những anh hùng đã tuẫn tiết trong ngày Quốc Nạn: Những Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, những Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ. Sau đó Ông cùng các chiến hữu đến bờ sông Mỹ Chánh, nơi Ông từng lập một tuyến phòng thủ kiên cố chặn bước tiến của 6 sư đoàn Cộng Quân. Ông bước qua giòng sông Thạch Hãn bắt tay hỏi thăm chiến hữu, trở lại đồi Phượng Hoàng, căn cứ Ái Tử, đồi Mộc Đức, thị xả Đông Hà để ngắm nhìn chiến tích của Thiết Đoàn 20 Chiến Xa lẫy lừng trong trận xa chiến tiêu diệt toàn bộ T54 của địch. Ông sẽ ghé qua Triệu Phong để nhớ ngày nào đã tung “thằng Quái Điểu” vào đó để làm đầu cầu cho toàn bộ Sư Đoàn TQLC và Lữ Đoàn I Kỵ Binh tiến về Cổ Thành Đinh Công Tráng. Sau cùng Ông sẽ cùng các chiến hữu dừng chân trên Cổ Thành để vẳng nghe tiếng kèn truy điệu xưa, một chiến tích lẩy lừng đã đưa QLVNCH lên hàng quân đội thiện chiến nhất thế giới, để cùng các chiến hữu đồng ca “Ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào. Quỳ hôn đất thân yêu Quảng Trị ơi chào quê hương giải phóng…. “.
Tướng Quân Ngô Quang Trưởng hôm nay đã về lại quê hương cùng anh linh các chiến sĩ anh hùng đã vị quốc vong thân vì đã chiến đấu cho ngọn cờ vàng mãi mãi tung bay khắp thế giới. Chúng tôi những thuộc cấp, những chiến hữu của Ông ngày nào xin tạm biệt Ông. Một ngày nào đó chúng ta sẽ trùng phùng. Nơi đó chắc chắn sẽ không còn loài quỷ đỏ. Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sẽ trở thành Nghĩa Trang Chiến Sĩ QLVNCH. Nghĩa Dũng Đài và Vành Khăn Tang sẽ được hoàn tất hùng tráng hơn, nguy nga hơn, tráng lệ hơn để cho những chiến binh oai hùng của QLVNCH có nơi về để đàm đạo, cùng sinh hoạt chan hòa trong tình huynh đệ chi binh.
Trong cơn thảng thốt và đau buồn nầy, không văn chương phú lục, không hoa hòe hoa sói, không lễ nghi quân cách mà bằng tấm chân tình và niềm kính trọng vô biên, chúng tôi xin bắt súng nghiêm chào đưa tiễn Tướng Quân Ngô Quang Trưởng về cõi vĩnh hằng để sum họp cùng chiến hữu các cấp đã cùng Ông chiến đấu trong thời lửa đạn điêu linh.
Tổ Quốc Ghi Ơn

2007
Filed under: Kỵ Binh Ngụy Saigon Tagged: | ngo quang truong, nguy, saigon


Chào Anh Ngụy SaiGon,
Thật sự mình chỉ nghe “sư đoàn 9 ra An lộc và Bình Long”, lúc đó mình đang ở Kampong Track tin tức chỉ là “lính nói lính nghe” còn chắc chắn là mình thấy Thiết đoàn 2 về VN trước khi Kampong Track thực sự bị bao giây. Do đó mình nghỉ Thiết Đoàn 2KB đi theo sư đoàn 9 ra An Lộc và Bình Long. Besides, khi đơn vị mình mở đường máu ra, thì đã thấy xe M113 của thiết đoàn 2 bị bắn nằm rãi rác dọc đường cùng với những xác chết, căn cứ vào những evidences mình có thể xác định họ đã thoát ra trước khoảng 2 tuần lễ.
Dạ quang, mỗi xe được cấp một cái, tuy nhiên chỉ dùng được khi trời có trăng hoặc trời quang đảng, không mây(nhờ ánh sáng của sao trời). còn nếu ban đêm mây mù bao đặt thì cũng không thấy.
Sau nầy Mỹ có cung cấp cho mỗi chi đội một máy dò tiếng động. Lúc đầu mọi người nghỉ nó rất tốt, sau nầy thì cũng không thể dùng bởi gì gió thổi, chuột chạy và bất cứ cài gì có tiếng động là nó báo động. Báo động every minute làm tất cả mọi người luôn trong tình trạng khẩn trương, không ngủ được do đó không xài.
M79 bắn đạn dây rất công hiệu, thật sự mình không biết là do Mỹ cung cấp hay mình mua. Khi chiếm mục tiêu, một cánh làng trãi dài khoảng 500met, khi M79 bắn như là dây pháo được đốt trãi dài từ trái qua phải hay ngược lại. Vì thế VC không thể nào ngốc đầu lên khỏi hố để bắn mình đươc.
Thiết Giáp mình sau nầy có sáng chế ra cách gài mìn claymore mà mình luôn tin tưởng VC không thế nào phá nổi. Trong quân trường, khi gài mìn claymore được gắn vào trigger, khi VC tấn công đến thì mình “bấm nút” trigger cho mìn nổ. Khi ra chiến trường, mìn mình được gài bằng cách căng dây vào cái “clip”, nếu VC đi vướng dây thì mìn nổ. Tuy nhiên sau nầy VC dò mìn và cắt dây do đó mìn mình gài bị vô hiệu hóa. Sau nầy thiết giáp chế ra cách gài mìn làm bằng cây tâm xe đạp và “kiền đạn” 50, khi VC đi vướn hoặc cắt dây đều bị nổ. Phát minh lúc đầu mình rất tin tưởng, tuy nhiên sau nầy “vỏ quýt dầy móng tay nhọn”. Người VN mình thì anh cũng biết đâu có gì giử bí mật được lâu. Một người biết, nhiều người biết và rồi VC biết, do đó nó biết cách phá vở thôi.
Có một Legend về thiết đoàn 16KB cho tới nay có những cái tôi vẫn không biết chắc chắn lắm. Nghe nói thiếu tá Nguyễn Đức Dương thiết đoàn trưởng thiết đoàn 16KB là VC. Tuy Nhiên cái tôi biết chắc chắn là lần đầu tiên qua Cambochia, ở mật khu Ba Thu, kỳ mà tướng Nguyễn Viết Thanh tử nạn. Khi thiết đoàn 16 đến mật khu Ba Thu thì có bắt được một thanh niên khoảng 18 tuổi, người thanh niên nầy cho biết cha mẹ bị chết do đó ông Dương nhận làm con nuôi và đặt tên là Nguyễn Viết Thanh sau đó đem anh ta về ở hậu cứ thiết đoàn. Khi ông Dương đổi ra miền Trung thì anh Thanh đăng ký vào lính thiết giáp và ở cùng xe với tôi. Trong lúc chuyện trò, thì anh cho biết anh là người góc Vỉnh Bình. Vỉnh Bình là một địa danh nổi tiếng VC. Tôi tự hỏi tại sao anh là người Vỉnh Bình mà bắt được anh tại mật khu Ba Thu, Cambochia? Có lẽ thời gian sẽ trả lời. Đến tháng 4 năm 75, anh Thanh mang quân hàm thiếu úy VC. tiếp thu lử đoàn 4 và thiết đoàn 16 KB tại Vàm Cống, Long Xuyên. Anh Thanh là VC. còn Nguyễn Đức Dương thì như thế nào xin quý vị bổ sung thêm. Qua danh sách thiết giáp, tôi có biết một người, thiếu tá Đổ Đức Thảo, trước kia từng là thiết đoàn phó thiết đoàn 16KB, lúc đó Nguyễn Đức Dương là thiết đoàn trưởng. Tôi không biết vị nầy có biêt gì về Nguyễn Đức Dương hay không?
Vài hàng, hy vọng mình sẽ trao đổi và ghi lại những ngày tháng đau thương.
Anh Thao Nguyen thân mến,
Xin chân thành cám ơn anh đã “thiết tha ghi lại một vài hình ảnh đáng nhớ ”
Chúng tôi không biết được diễn tiến cũng như nguyên nhân mà Lữ Đoàn 4 KB và Liên Đoàn 7 BDQ bị bao vây tại KonKampong Trach. Cho nên bài viết của xếp tôi Th/Tá Trương Văn Điền chỉ nói phần Th/ Đoàn 2KB chúng tôi và TD 58 BDQ đi giải tỏa cho LD 4 KB và LD7BDQ. Viết chiến sử phải trung thực và tương đối chính xác. Những điểm mơ hồ chưa xác định được thì để đấy khi có điều kiện để tham khảo thu nhặt tài liệu hay phỏng vấn người trong cuộc thì làm tiếp.
Anh đã khẳng định là “mắt thấy tay rờ ” thì tôi còn nói năng gì nữa. Thế nhưng những tin tức những tài liệu của anh liên quan đến những hoạt động của TD/ Đoàn 2 KB chúng tôi hoàn toàn trái ngược những gì chúng tôi biết.
Tôi không biết Miền Trung mà anh nói là thuộc tỉnh nào. Nhưng tôi có thể đoán rằng Thiết Đoàn 18 KB thuộc LD3KB tăng phái cho chiến trường Quảng Trị. Còn mặt trận Kontum thì chỉ có Chi Đoàn 1/8CX. Th/Đoàn tôi trước trận Kampong Trach thì CD 1/2TK theo Trung Đoàn 15 BB ta9ng phái cho mặt trận An Lộc. Vừa trở về hậu cứ thì được điều động cùng CD 2/2 và 3/2 TK đang ở Kinh Tám Ngàn đi giải cứu cho LD4KB và LD7BDQ. Th/Đoàn 2KB chưa bao giờ ra Miền Trung cũng như chưa bao giờ bị bao vây ở Kampong Trach và thoát về nước.
Súng M79 bắn tự động không nằm trong cấp số. Đó là những vũ khí mà Th/ Đoàn 16 đã mua hoặc trao đổi. Cũng như TH/Đoàn 2KB chúng tôi có máy nhìn đêm và đại liên 6 nòng. Toàn là đồ trao đổi và mua. Đại liên 6 nòng thì chúng tôi bảo trì sửa chửa nhưng máy nhìn đêm thì không. Gửi cho Quân cụ sửa dùm thì coi như một đi không trở lại. Máy nhìn đêm rất lợi hại. Bam đêm không cần tiền đồn không cần mìn bẩy. Chỉ có máy nhìn đêm là đủ sức chơi những trò đột kích của VC. Chúng tôi giết rất nhiều VC nhờ máy nhìn đêm.
Chào Anh Nguy Saigon,
Mình chỉ là một khinh kỵ, tầm mắt luôn nhỏ hẹp và giới hạn, những điều mình chứng kiến không được rộng lớn, tuy nhiên những sự việc đó có thể nói gần như là “mắt thấy tay rờ”. Sở dỉ mình nhớ rất rỏ về những sự việc xãy ra trước trận Kampong Track và trận Kampong Track bởi gì nó là bước ngoặc đầu tiên của lịch sử nói chung và thiết giáp nói riêng. Bởi vì thiết giáp là quyết định chiến trường, chưa bao giờ có chuyện “chạy hay bị bao vây”. Dù không có một mục đích cá nhân, tuy nhiên tôi thấy vẫn thiết tha ghi lại một vài hình ảnh đáng nhớ.
Sau khi tu bổ các M113 tai hậu cứ Vàm Cống LongXuyen, Chi đoàn 2/16 thiết kỵ được lên vùng Thất Sơn Bãy Núi để quán đổi cho chi đoàn 2/12 TK. Sau khi quán đỗi chi đoàn qua đêm gần núi dài Ông Cấm, qua ngày hôm sau chi đoàn được lệnh di chuyễn lên gần Ba Chúc, sau một buổi di chuyễn, chi đoàn được lệnh bố trí chuẩn bị ăn trưa. Vào khoảng 2 giờ chiều, khi ăn trưa chưa xong, chi đoàn đươc lệnh gấp rút di chuyễn đến Tịnh Biên, qua Cambochia, đến quận Tani để tiếp viện cho chi đoàn 2/12. Tiếp viện? thật sự là bàn giao mục tiêu thì đúng hơn. Giao mục tiêu cho chi đoàn tôi xong, chi đoàn 2/12 ra gần thành phố Tani, dể yểm trợ căn cứ pháo binh. Riêng chi đoàn tôi bố trí qua đêm gần mục tiêu, nhìn hai đốm lữa cũa hai chiếc M113 của chi đoàn 2/12 bị bắn cháy leo lét trong mục tiêu có thể nói đó là những viễn ảnh không mấy tốt đẹp của những ngày sắp tới.
Sáng sớm chi đoàn đươc lênh chiếm mục tiêu, thì VC đã rút, chỉ còn nhặt xác được 3 người BDQ đã chết ngày hôm qua. Liên đoàn trưỡng biệt động quân là đại tá Đại, tuy nhiên phần nhiều binh sĩ thường gọi ông ta là đại tá “Đài”, bởi gì mỗi ngày các chiến sỉ BDQ phải lội bộ hành quân khoãng 10 hay 15 cây số. lính đi trước, ông ta lái xe jeep tà tà theo sau, chẳng có anh nào “chém vè” được, do đó mọi người lính thường gọi ông ta là đại tá “đài” Các tiểu đoàn hành quân riêng rẽ, khi nào “đụng” thì gọi thiết giáp chúng tôi đến tiếp viện. Mỗi lần thiết giáp chúng tôi đến thì VC rút lui. Hành quân được vài ngày, vào một buỗi chiều với cơn nắng gay gắt, chúng tôi có lệnh tất cả chi đoàn 2/12 TK, chi đoàn 2/16TK và pháo binh phãi rút về VN (fast as we could). Trong khi nằm chờ phào binh thu dọn, chúng tôi nhận thấy pháo binh hối hả nhổ trại, đạn chỉ đem theo một ít còn bao nhiêu thì bỏ lại tất cã. Tôi có cãm tưỡng hình như mình “chạy” thì phải. Thật sự trong đời binh nghiệp tôi chưa bao giờ chứng kiến cảnh hãi hùng nậy. Về đến VN, chi đoàn tôi được án ngữ biên giới Tịnh Biên và Cambochia doc theo bờ kinh Vỉnh Tế, trong khi đó chi đoàn 2/12TK di chuyển ngược về Long Xuyên, Rach Giá và trở qua Cambot theo ngã Hà Tiên để đi Kampong Track. Căn cứ theo bản đồ, từ Tani đi đến Kampong Track rất là gần, nhưng mình không biết sao thằng 2/12 phải đi một vòng xa như vậy. Trong đời lình rất thường có những chuyện lính nói cho lính nghe thôi chứ còn sự thật thì cũng chẳng biết đâu mà nói. “đ.m. tao nghe nói có một công trường thép BV đang hoạt động ở vùng nầy???” thời gian khoãng một tuần lễ sau, chi đoàn được lệnh di chuyễn theo thằng 2/12. “đ.m. mình đi tiếp viện thằng 2/12, nghe nói nó bị VC lấy mất 3 chiếc M113???”
Tham dự chiến trường lúc nầy gồm thiết đoàn 2, 12, 16 và một liên đoàn biệt động quân. Thiết đoàn 2 KB được lệnh trở về VN để theo sư đoàn 9 ra tiếp viện miền trung, rất may là lúc đó VC vừa khép lại vòng vây, do đó nó mới đi về được VN, dù sao vẫn không tránh khỏi những tổn thất nặng nề (sau nầy tôi mới biết). Còn lại là thiết đoàn 12KB, 16KB và một liên đoàn BDQ ở lại tử thủ Kampong Track. Không tử thủ cũng không được, bỡi gì từ chổ “qua đêm” VC đã pháo kích dồn dập, đơn vị “bung ra” thì bị VC bắn đạn thẳng, giờ phát giác ra là mình đã bị bao vây rồi. Pháo kích, đối với thiết giáp là “hạt ỉa miệng chay”. Một con hạt đang bay trên trời mà “drop” vào miệng chay thì là một điều rất hiếm xãy ra, tuy nhiên cả trăm ngàn con hạt thì cái việc “drop” vao miệng chay xãy ra không phải là ít. Xe tôi có năm người, hai người chết tại chổ, một người bị thương. Ban ngày cố “bung ra”, do đó phải bắn để mở rộng, tối gôm lại để ngũ, ngày nầy qua ngày nọ, đạn dược, lương thực càng ngày càng cạn, máy bay tiếp tế drop supply 10 lần, chỉ một vài lần là nhận được, còn phần nhiều là rớt nơi đất địch. Thương binh, tự xe nào nấy lo, dùng băng cá nhân tự băng lấy, chết được bó puncho, lúc đầu được để ở “bửng nước”, sau bỏ đại dưới đất chẳng còn ai lo cho ai. Sau 22 ngày bị bao vây, chuẩn tướng Giai tư lệnh biệt khu 44 chỉ huy cuộc mở đường máu rút quân về VN, vẫn không được, cuối cùng TT Ngô Quang Trưỡng chỉ huy cuộc mở đường máu. Sau khi cuộc mở đường máu xong thì ông ta ra miền trung.
Cuộc mỡ đường máu nầy, chiến sĩ xuất sắc nhứt của chi đoàn là hạ sĩ “Cùi Mẽ”, là xạ thủ M79 liên thanh. Tôi không nhớ rỏ, có thể cách đây khoảng hai năm, Mỹ đã trang bị cho ta một loại vủ khí tối tân và cận đại đó là M79 bắn liên thanh. Thường súng được bắn bằng điện, sau khi set up xong, khi ta bắn thì súng sẽ tự động xoay từ trái qua phải và ngược lại. Giờ thì súng đã không thể bắn bằng điện và tự động được nữa, do đó phải xoay bằng tay(manual), một tay bắn và một tay xoay. mỗi lần nó bắn mình có thể hình dung như những tràng pháo dây được đốt nổ trãi dài từ trái qua phải và từ phải qua trái, uy lực rất mạnh mẽ và khủng khiếp. Tuy nhiên sau đó thì Mỹ đã thu hồi lại.
Sau khi củng cố lại, cấp số đủ của chi đoàn là khoãng 25 chiếc M113, thực tế tham chiến khoãng 18 hoặc 22 chiếc M113, giờ thì chỉ còn 12 chiếc, Mỗi xe có khoãng 5 người, giờ xe tôi, chỉ còn mình tôi, khoảng vài ngày sau thì được bổ xung bởi những người lính thợ hồ, thợ mộc của bộ chỉ huy thiết đoàn để cấp số lên đủ, dù là vậy, chi đoàn tôi vẫn làm nhiện vụ chốt đầu của giới tuyến. Hằng ngày nằm dọc theo con lộ 33 trãi dài từ núi(đồi) Lộc Sơn lên hướng Kampong Track để đón BDQ tan rã trở về. Lệnh mở đường máu, BDQ là những con cờ thí, họ phải nằm áng ngữ phía sau cho thiết giáp rút quân. Sau khi thiết giáp rút xong thì VC tràn vào, họ phải ngăn chận VC lại và bị tan rã. 4 tiểu đoàn BDQ tôi nghỉ ít nhứt cũng trên ngàn người, giờ mỗi ngày đón họ tổng cộng không quá đầu ngón tay. Ngoài ra tôi thấy nhiều xe M113 của thiết đoàn 2 bị bắn cháy nằm dọc đường, thật là một cảnh thương tâm. Thiết đoàn 16 được thành lập bởi phần nhiều những quân nhân từ thiết đoàn 2KB và thiết đoàn 9KB. Chi doàn 2/16 phần nhiều là những quân nhân kỳ cựu của thiết đoàn 2KB. Hằng ngày tôi thường nghe kể lại những mẫu truyện của thiết đoàn 2KB, do đó tôi rất có nhiều cãm tình với họ. Giờ nhìn thấy những xác chết cũa những quân nhân thiết đoàn 2KB đã bị chó ăn và tha rãi rác nhiều nơi. tôi cãm thấy hết sức đau long.Tôi và những người lính khác đã săn nhặt và chôn họ lại.
VC đánh An Lộc Bình Long . . . . đồng thời họ cũng muốn tấn công luôn vùng 4, đặc biệt là Châu Đốc và Kiên Giang. Tuy nhiên chúng đã bị cầm chân tại Kampong Track hoặc ngược lại họ cầm chân chủ lực ta tại đây. Dù mục đích của họ hay mục đích của ta, dù như thế nào, cuộc chiến đã không xãy ra tại Châu Đốc và Kiên Giang, do đó chúng ta đã tránh được cảnh nhà tan cửa nát nhân linh điêu tàn.
Thưa Ông Thao Nguyen,
Cám ơn ông đã đọc bài Tướng NQT: Một Vì Sao Sáng của tôi. Ông đã biết đến trận chiến Kampong Trach Mùa Hè đỏ lửa. Những gì ông viết gần đúng.
Xếp tôi Thiếu Tá Trương Văn Điền, Chi Đoàn Trưởng CD 3/2 TK, đã yêu cầu tôi cùng ông viết bài Kampong Trach vì trận chiến nầy chỉ còn chúng tôi biết mà thôi. TS Nguyễn Đức Phương đã liên lac với tôi để yêu cầu tôi thuật lại cho TS Phương nghe trận Kampong Trach để ông bổ túc vào chiến sử VNCH mà thiếu trận chiến Kampong Trach và Kampong trapek.
Vừa qua Xếp tôi đã chuyển cho tôi ba bài: Trận Mậu Thân , Trận Kampong Trach và Trận Kampong Trapek. Tôi sẽ cho đăng tải ba bài với lời giới thiệu của tôi trên Baovecovang của Chị Lê Thy. Trong trận Kampong Trach Lữ Đoàn 4 Kỵ Binh do Đại Tá Nguyễn Văn Của làm Tư Lệnh và Đại Tá Phạm Duy Tất, Liên Đoàn Trưởng, Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân bị công trường Thiết Đoàn 2 KB chúng tôi không trực thuộc Lữ Đoàn 4 KB và không bị bao vây ở Kampong Trạch. Tướng Trưởng đã điều động Thiết Đoàn 2 KB và Tiểu Đoàn 58 Biệt Động Quân do Đại Úy Măng chỉ huy và Chi đoàn 3/2 TK do xếp tui chỉ huy đã dùng chiến thuật “cán trên đầu giặc ” mà đi đã bắt tay Thiết Đoàn 16 KB. Không có chuyện “TD2 KB thoát ra được để tăng viện cho Miền Trung” Nếu TD2KB thoát ra được thì TD12 và 16 KB lý do gì không thoát ra được. Sau đó Chi Đoàn 1/2 TK đã theo Trung Đoàn 15 BB do Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn chỉ huy tăng viện cho chiến trường An Lộc. Nếu ông đọc bài “Dư Âm Cửa Việt” ông sẽ thấy Thiếu Tá Đặng Hữu Xứng đã cán trên đầu giặc mà đi nên chỉ 24 giờ đã vượt qua 10km để đối mặt quân thù.
Mùa hè đỏ lữa, tất cả mọi người đều biết một số địa danh, một số chiến tích như An Lộc, Bình Long . . . . nhưng gần như tất cả mọi người đều không bao giờ biết đến chiến trường vùng 4. Gần như tất cả binh chủng chủ lực quân đã bị bao vây gần một tháng trời tại tình “Kampongtrake” Cam Bốt. trong đó bao gồm thiết đoàn 2KB, Thiết đoàn 12 KB, Thiết đoàn 16 KB và một liên đoàn biệt động quân gồm tiểu đoàn 66 (Hà Tiên) 85, 86 và không nhớ. Trong bước đầu của cuộc bao vây, Thiết đoàn 2KB trực thuộc sư đoàn 9 đả thoát về VN trước để tăng viện cho miền trung. Do đó chỉ còn lại thiết đoàn 12KB, 16KB và một liên đoàn BDQ trong vòng vây gần một tháng trời. Nhìn những người bạn chết được gói ponch sau đó bỏ xác tại Cam Bốt chớ chẳng được đem về nước. Truớc khi tướng Trưởng ra vùng một, ông là người trực tiếp chĩ huy cuộc mở đường máu tại Kampongtrack, Cam Bốt. Nếu không có ông, thì chúng tôi không biết ra sau khi mà luơng thực đạn dược đã không còn.
Những anh hùng của miền nam tự do bao giờ cònthấy nửa
chan thanh cam on,quy nien truong ban bien tap bao ve co vang,da dem den toi nhung giay phut hoi tuong
lai thoi qua khu day hao hung cua quan luc viet nam cong hoa,xin kinh chuc chu vi nien truong so nguyen tung tam,so cau nhu y,hen ngay khai hoang sau bao nam dai song trong den toi cua cong san viet nam,hen gap o sai gon mot ngay khong xa./.
kinh mong anh linh trung tuong ngo quang truong duoc moi tot dep noi the gioi cuc lac.
thanh kinh nghien minh truoc di anh trung tuong.
cuu quan nhan tb.td3,td16.sd9bb
Nước Việt Nam này có 84 triệu dân làm trâu ngựa dể nuôi bọn cộng sản chó má, hãy giữ vững lòng tin một ngày nào đó chung ta sẽ phục quốc VNCH.
Biet bao gio cac ANH tro lai?
dau sao…cung phai biet on ANH.
Trung Tuong Ngo Quang Truong la mot con nguoi chinh truc,nhin ong du de thay mot con nguoi trong sach nhat cua hang ngu tuong lanh QLVNCH,nhat thanh nhi chinh tam thanh tu truong dau sau nam cai ngay thang 3 dau thuong 1975,den nay tuy nhien cuoc chien quoc cong van con tiep dien day la mot cuoc chien gianh lai tu do dan chu va nhan quyen cho dan toc vietnam
Danh tiếng của Tướng Ngô Quang Trưởng thì khỏi phải nói rồi. Tên tuổi của ông rồi đây sẽ như Trần Nguyên Hãn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ lão v.v….
Chỉ tiếc rằng, thời buổi nhiễu nhương, vận nước suy vi, có nhiều kẻ tiểu nhân được mang cấp bậc tướng, và lại được làm công việc của một người Tướng cho nên đã góp phần dẫn đến cảnh nước mất nhà tan.
Nếu người dân được quyền bầu chọn vị nguyên thủ quốc gia của mình thì tại sao không cho những người lính đang cầm súng chiến đấu và những vị chỉ huy trưc tiếp của họ bầu chọn những vị tướng lãnh cho quân đội và đất nước mà mình đang phục vụ?
Một ông tổng thống hay một ông thủ tướng làm sao hiểu rõ khả năng làm tướng của một người bằng những vị hạ sĩ quan và những người lính đang làm việc chung với người đó được?
Dưới thời Thành Cát Tư Hãn (TCTH), có luật “Yat-Sơ”: người lính nào biểu lộ lòng can trường quả cảm và có khả năng chỉ huy thì lập tức được thăng lên làm tưóng (lớn nhỏ tuỳ theo khả năng cao thấp). Ngược lại, một vị tướng tỏ vẽ yếu kém bất tài thì lập tức bị giáng xuống hàng binh cho dù người đó là hoàng thân quốc thích với TCTH. Đây là một trong những yếu tố lớn làm gia tăng sức mạnh cho quân đội Mông Cổ.
“Thức đêm mới biết đêm dài”
Chỉ có người lính ngày đêm chiến đấu với các cấp chỉ huy mình mới biết rõ vị nào có khả năng làm tướng mà thôi.
Cuối xin ơn trên gia hộ cho anh linh Tướng quân Ngô Quang Trưởng đời đời an lạc nơi cõi vĩnh hằng.
Kính,
Hoàng Kỳ Bắc Tiến
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương
(1929 – 2007)
Trong hoàn cảnh lịch sử khó khăn của Việt Nam Cộng Hòa, một vị lãnh đạo quốc gia hoặc một vị Tướng, được cả dân và quân kính mến, không có được mấy người. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là một trong số ít những người đó.
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là một Tướng Lãnh của chiến trường, một vị Tướng xuất sắc nhất trong hàng tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã phục vụ trong quân đội từ năm 1954 đến 1975. Ông cũng được xem là người hùng Quảng Trị khi đánh bật quân xâm lăng Cộng sản Bắc Việt, tái chiếm Quảng Trị vào năm 1972 .
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng , số quân:49/100.012. Ông sinh ngày 13/12/1929, tại Kiến Hòa. Nhập ngũ ngày 17/11/1953, tốt nghiệp Khóa 4 Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức, tháng 6/1954. Ra trường với cấp bực Thiếu Úy, được bổ nhiệm Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù.
Năm 1955, Ông tham gia cuộc tiễu trừ lực lượng Bình Xuyên và được đặc cách thăng cấp Trung Úy tại mặt trận.
Năm 1963, Ông được thăng cấp Đại úy.
Năm 1964, Ông thăng cấp Thiếu tá và được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy dù . Cùng năm 1964, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù do Ông chỉ huy được trực thăng vận nhảy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc quận Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi, phá vỡ căn cứ địa của Bộ Tư lệnh Mặt trận B.1 của Cộng sản Bắc Việt, tịch thu 160 súng đủ loại. Cũng trong thời gian này Ông đã anh dũng cứu mạng một cố vấn Hoa Kỳ bị trọng thương, Đại úy Thomas B. Thockmorton, con của Trung Tướng John Thockmorton, chỉ huy phó MACV lúc bấy giờ.
Năm 1965, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù do Ông chỉ huy được trực thăng vận nhảy vào mật khu Hắc Dịch, thuộc vùng núi ông Trịnh, tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa), căn cứ của Sư đoàn 7 Cộng sản Bắc Việt. Sau hai ngày chạm súng, Nhảy dù đã gây thiệt hại nặng nề cho hai Trung đoàn Q.762 và Q.762 thuộc Sư đoàn 7 Cộng sản Bắc Việt. Ông được đặc cách thăng cấp Trung tá tại mặt trận, và được tưởng thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.
Năm 1965 sau trận Hắc Dịch, Ông được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Lữ đoàn Nhảy dù. Đến cuối năm 1965, Ông nhận nhiệm vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn Nhảy dù.
Năm 1966 Ông được thăng cấp Đại tá.
Vào tháng 6/1966, sau cuộc biến động tại miền Trung, Ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Quân đoàn I.
Năm 1967, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh do Ông chỉ huy, gồm Đại đội Hắc Báo Trinh Sát, cùng Chi đoàn 2/7 Thiết Vận Xa M.113, do Đại Úy Nguyễn Hóa chỉ huy, tăng phái Tiểu đoàn 9 Nhảy dù do Thiếu tá Nguyễn Thế Nhã chỉ huy, tấn công, phá vỡ hạ tầng cơ sở và toàn bộ lực lượng Cộng sản thuộc mặt trận Lương Cổ, Đồng Xuyên, Mỹ Xá thuộc quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Sau chiến công này Ông được thăng cấp Chuẩn tướng.
Năm 1968, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh do Ông chỉ huy, tăng phái Chiến đoàn 1 Nhảy dù (gồm các Tiểu đoàn 2, 7 và 9 ) do Trung tá Lê Quang Lưỡng (sau này là Chuẩn tướng, Tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù) chỉ huy đã phòng thủ thành công tại Huế trong 26 ngày (từ 30 tháng 1 đến 24 tháng 2, 1968). Các đơn vị nầy đã đẩy lui các đơn vị xung kích của Cộng sản Bắc Việt, gồm Đoàn 5 (các Tiểu đoàn K4A, K4B, Tiểu đoàn 12 đặc công nội thành, Thành đoàn Huế) Đoàn 6 (các Tiểu đoàn K41, K6, Tiểu đoàn 13 đặc công nội thành Huế, các Đại đội đặc công 15, 16, 17, 18, tăng cường một Đại đội súng phòng không 37 ly, hai Đại đội Cộng sản quận Hương Trà, Phong Điền, hai Đại đội biệt động nội thành Huế), và hai Tiểu đoàn 416, 418 thuộc đoàn Cù Chính Lan tức đoàn 9.
Tướng John H. Cushman kể lại: “ Hai ngày trước Tết Mậu Thân, Tưởng Trưởng linh tính cho Ông biết, sẽ có một chuyện gì đó (một cuộc tấn công của quân Bắc Việt ??) xảy ra và Ông cho đặt Sư đoàn 1 trong tình trạng báo động. Qua đêm đầu tiên không có chuyện gì xảy ra, Ông cho bỏ lịnh báo động, nhưng vẫn giữ Sư đoàn 1 trong tình trạng sẳn sàng. Và đêm hôm sau, cuộc tấn công Tết Mậu Thân bắt đầu, và kéo dài đến mấy tuần sau.”
§ Tướng Trưởng và các đơn vị của Ông đã giữ vững Huế và gây thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công Huế. Sau trận Mậu Thân ông được đặc cách thăng cấp Thiếu tướng.
§ Năm 1970 Ông được thăng cấp Trung tướng.
Trong cuộc hành quân Toàn Thắng 42, khai diễn vào ngày 2/5/1970, Quân đoàn IV đã phối hợp với Quân đoàn III do Tướng Đổ Cao Trí chỉ huy, vượt biên giới Việt-Miên tiến vào mật khu Ba Thu của Cộng sản Bắc Việt tại Mõ Vẹt. Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh, tư lệnh Quân đoàn IV đã hy sinh vì tổ quốc, trong cuộc hành quân này. Trung Tướng Trưởng được bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Quân đoàn IV kiêm Tư lệnh Quân khu IV, và nhận bàn giao Quân đoàn vào ngày 21/8/1970. Ông giữ nhiệm vụ này cho đến đầu tháng 5/1972.
Năm 1972 mùa hè đỏ lửa, quân Cộng sản Bắc Việt mở cuộc tấn công vào Quân khu I. Lực lượng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Quân khu I bị tổn thất tỉnh Quảng Trị . Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I thay thế Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm. Nhận bàn giao Quân đoàn vào ngày 3 /5/1972. Quân dân miền Trung vui mừng khi thấy vị Tướng kính mến đã trở lại với qụê hương thân yêu của họ. Và tinh thần chiến đấu của quân và dân vùng I lên cao bội phần. Các tân Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, hăng hái tinh nguyện chọn về phục vụ tại Sư đoàn Bộ binh lừng danh nhất cùa quân đội: Sư đoàn 1 Bộ binh, để bảo vệ phần tuyến đầu của Tổ quốc.
Quân khu I, được tăng cường với toàn bộ lực lượng tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và được sự yểm trợ từ xa bởi Hạm đội 7 Hoa Kỳ, chỉ trong vòng 489 giờ đả đẩy lui và tái chiếm Tỉnh, Cổ Thành Quảng Trị, cùng tất cả các phần đất ở phía Nam sông Mỹ Chánh, Cửa Việt, và gây thiệt hại thật nặng nề cho các đơn vị của Cộng sản Bắc Việt.
Qua những chiến công này, Ông được dư luận quốc tế và quốc nội, xem là một vị Tướng tài giỏi của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Năm 1975, với chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I, Ông bị lấy đi Sư đoàn Nhảy dù đang cùng Sư đoàn 1 và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến trấn thủ Quân khu I. Ông được lệnh phải tử thủ Huế, nhưng sau ít lâu lại nhận lệnh di tản toàn bộ Quân đoàn I vào Đà Nẵng. Do thiếu thời gian chuẩn bị, cuộc di tản hoàn toàn thất bại, gây tổn thất cho lực lượng quân sự và cơ giới của Quân đoàn I. Thiệt hại đáng kể nhất là việc quân đội Việt Nam Cộng Hòa mất hoàn toàn quyền kiểm soát vùng lãnh thổ có 3 triệu dân, và thiệt hại hai Sư đoàn thuộc hàng thiện chiến nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là Sư đoàn 1 Bộ binh và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và đã đưa đến sự sụp đổ toàn bộ miền Nam một cách nhanh chóng, bất ngờ.
Trong những giờ phút hỗn loạn đó, Ông đã ở lại với binh sĩ cho đến giờ phút chót, cuối cùng phải bơi ra tàu xuôi Nam.
Ông trở về Sài Gòn và khai bệnh, dưỡng bệnh cho đến khi Sài Gòn thất thủ.
Những ngày cuối tháng Tư 1975, Ông đã được Sĩ quan Hoa Kỳ ( từng phục vụ với Ông ) tìm kiếm và thu xếp cho Ông và gia đình di tản.
Ông cùng gia đình qua Hoa Kỳ, định cư tại vùng Bắc tiểu bang Virginia, gần Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng từ trần tại Fairfax, Virginia vào ngày 22 tháng Giệng năm 2007.
Nơi quê hương mới, Ông đi học lại, ra trường và làm việc cho Association of American Railroad, như là một Computer Analyst, cho đến ngày Ông về hưu vào năm 1994.
Trong thời gian này, luôn luôn u uất bởi gậm nhấm nổi buồn, và tự ân hân vì việc di tản của Quân đoàn I, Ông đã từ chối tiếp xúc với giới truyền thông, báo chí. Không xuất hiện trong các cuộc sinh họat của Cộng đồng tỵ nạn Việt Nam trong vùng.
Ông sống những tháng ngày thật ẩn dật, đã có nhiều giới chức thẩm quyền của chính phủ Hoa Kỳ, đến tận nhà thăm viếng Ông trong những limousine, kiếng đen quay kín, nhưng những láng giềng chung quanh vẫn không biết Ông là ai. Qua báo chí địa phương, sau khi Ông từ trần, mới biết rằng láng giềng của họ là một vị Tướng nổi danh nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
Ngoài tài chỉ huy quân sự, Ông vẫn luôn được các chiến sĩ Quận Lực Việt Nam Cộng Hòa và đồng bào kính trọng, vì đời sống hết sức thanh bạch của Ông. Được mệnh danh là một trong 4 vị Tướng thanh liêm, trong sạch nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, qua câu: “Nhất Thắng (Nguyễn Đức Thắng), nhì Chinh (Phan Trọng Chinh), tam Thanh (Nguyễn Viết Thanh), tứ Trưởng (Ngô Quang Trưởng)”.
Những ngày ở trại tỵ nạn Fort Chaffee, Arkansas, Ông chỉ có được 20 đô la trong túi, do một người bạn (cựu cố vấn Hoa Kỳ) tặng.
Trung Tướng ( hồi hưu ) John H. Cushman trở thành người bạn thân với Ông (sau thời gian làm việc chung với Trung Tướng Trưởng ) cho biết: “ Không như những vị Tướng khác làm giàu nhờ chức vụ, Trung Tướng không có lấy một bộ suit (complet), vợ Trung Tướng vẫn nuôi heo tại nhà, trong khu cư xá Sĩ Quan.
Cuộc đời binh nghiệp của Ông thành công nhờ các biện pháp cứng rắn, và sát cánh chiến đấu với binh sĩ ngoài mặt trận. Thường xuyên thị sát các tiền đồn hẻo lánh, nguy hiểm.
Là một vị Tướng tác chiến chuyên nghiệp, Ông không tham gia và cũng không để bị ảnh hưởng của chính trị và phe phái. Ông đã từng nói: “ Quân đội là quân đội và tôi chỉ nhận lệnh của Tổng Tư lệnh Quân đội”.
Ông luôn luôn với quân phục tác chiến, áo giáp, nón sắt, bình bi đông nước và cả một cái xẻng cá nhân, để làm gương cho thuộc cấp. Đó là hình ảnh của vị Tướng Tư Lệnh Vùng, mà đặc biệt đồng bào vùng I và IV, khó thể nào quên được.
Làm việc 7 ngày một tuần, dành hết tâm trí và công sức cho công vụ.
Ông yêu thương thuộc cấp, san sẽ mọi lợi lộc, tài chánh, thăng thưởng cho mọi người.
Được hầu hết quân, dân, cán, chính khen ngợi và tin tưởng Ông.
Quân xâm lăng Cộng sản Bắc Việt kinh sợ, khả năng quân sự của Ông.
Giữa năm 1974 , Ông đã làm một việc ngoạn mục, rất được lòng dân. Quân nhân của một đơn vị tại vùng I đã lùa một đàn bò của dân chúng, đem giấu ở thung lũng Quế Sơn. Khi nghe dân chúng tố cáo. Ông đích thân bay đi tìm và đem trao trả cho khổ chủ. Số bò còn thiếu Ông cho trừ lương từ Trung Đoàn Trưởng đến binh sĩ, lầy tiền mua bò trả đủ số cho dân.
Ông không dung dưởng, bao che các việc làm xấu của thuộc cấp, như một số các vị chỉ huy khác.
Ông luôn luôn cố gắng tìm kiếm, những phương cách tốt đẹp nhất, để cải thiện cuộc sống của quân nhân các cấp và gia đình của họ.
** Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là con rể của nhà văn tiền chiến Thạch Lam. Trung Tướng và Phu nhân có được tất cả sáu người con , bốn trai, hai gái, tất cả đều đã có gia thất. Ông cũng có đươc 12 cháu và 2 chắt….
Các tác phẩm quân sự
Bắt đầu năm 1979, theo lời mời của Trung tâm Quân sử Quân lực Hoa Kỳ (U.S. Army Center of Military History), ông ghi lại kinh nghiệm chiến đấu qua 3 quyển sách hiện còn lưu trữ tại trung tâm kể trên.
“The Easter Offensive of 1972″ (1983),
“Territorial Forces” (1984), và
“RVANF and US Operational Cooperational Coordination” (1984).
Nhận định về Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
Trung tướng Ngô Quang Trưởng không những được dân, quân, cán, chính miền Nam kính mến, thương yêu, mà Ông còn được những chiến sĩ, những vị chỉ huy của Quân Lực Hoa Kỳ chiến đấu tại Viêt Nam kính phục về đức độ, cũng như khả năng lãnh đạo và tác chiến của Ông.
* Tướng Creighton Abrams, Tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm 1968 đến 1972 đã từng tuyên bố: Tướng Trưởng có khả năng để chỉ huy một Sư Đoàn của Quân Lực Hoa Kỳ.
* Trong hồi ký của Đại Tướng H. Norman Schwarzkopf, nguyên Tư lệnh Bộ chỉ huy Trung Đông và tư lệnh quân đội Đồng Minh trong chiến dịch Bão Sa Mạc 1991, Ông đã viết về Tướng Trưởng như sau: “…[General Trưởng is] the most brilliant tactical commander I’d ever known …”, tạm dịch “[Trung Tướng Trưởng là] người chỉ huy chiến thuật kiệt xuất nhất mà tôi từng được biết”.
Cũng trong cuốn hồi ký này, viết năm 1992, Đại tướng Schwarzkopf đã ca ngợi Tướng Trưởng như một anh hùng trong trận đánh tại thung lũng Ia-Drang.( Khi Tướng Trưởng là Trung Tá và Tướng Schwarzkopf là Thiếu Tá Cố vấn). Đây là trận thử lửa, trận đánh lớn đầu tiên, và đẩm máu nhất (giữa lực lượng Cộng sản Bắc Việt với lực lương Không kỵ Hoa kỳ và sau đó với lực lượng Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vào tháng 11/1965). Khi quân xâm lăng Cộng sản Bắc Việt quyết định chuyển từ cuộc chiến tranh du kích, sang chiến tranh quy ước, tham chiến với cấp số tiểu đoàn và trung đoàn. Quân Cộng sản Bắc Việt đã bị tổn thất nặng nề trong trận giao tranh này, với lực lượng Không kỵ Hoa Kỳ, và Nhảy dù cùa Việt Nam Cộng Hòa. Trung tá George W. Smith, nguyên cố vấn Sư đoàn 1 Bộ binh, trong bút ký “The Siege at Huế” đã viết: “General Truong was tough, disciplined, and dedicated to his military profession. Unlike many of his contemporaries who had climbed the ranks through political influence, nepotism, or cold, hard cash, he had earned his stars on the battlefield. He was viewed as a self-starter, without a hint of corruption or ego. He was regarded by the Americans as unquestionably the finest senior combat commander in the South Vietnamese army.”; tạm dịch “Tướng Trưởng là một người cứng rắn, kỷ luật, và hết lòng với binh nghiệp. Không như một số đồng liêu của ông thăng quan tiến chức bằng quen biết hay lo lót, ông đeo sao trên vai bằng chiến công tại mặt trận. Ông là nguời cần mẫn, thanh liêm, và không tự cao tự đại. Người Mỹ cho rằng ai cũng phải nhìn nhận ông là người chỉ huy chiến đấu tài giỏi nhất của quân đội Nam Việt Nam.”
* Sử gia Bill Laurie, khi được tin Tướng Ngô Quang Trưởng qua đời, đã thư cho Đại Tá Hà Mai Việt, nguyên Trưởng Phòng 3, Quân đoàn I (1973-1974) như sau: “ Dai Ta Viêt, I am very sad to hear this. General Truong was true Viet Nam patriot, a brave man, and a man of impeccable character. We are all the worse of for his passing, but we will never, ever, forget him.”
* Nhật báo Washington Post trong số ra ngày 25/01/2007 đã viết lời khen ngợi Trung Tướng: “…. Ngo Quang Truong, 77, who was considered one of most honest and capable generals of the South Vietnamese Army during the long Vietnam War….”
* Vào những năm cuối đời, Ông đã can đảm để chiến đấu với căn bịnh ngặt nghèo, như ngày nào Ông đã can đảm chiến đấu ngoài mặt trận, trong cương vị của một vị Tướng, như Tiến sĩ Lewis Sorley ( Sử gia ), nguyên là Sĩ Quan Thiết Giáp Hoa Kỳ, tốt nghiệp Võ Bị West Point, từng tiếp xúc với Tướng Trưởng nhiều lần, đã nói: “I had the privilege of calling Gen. Truong only few weeks ago. I admired his courage in facing his final illness every bit as much as I did his battlefield bravely and generalship”.
* Đồng thời trong một e-mail gởi đến cho những người bạn đồng khóa của Ông – West Point Class of 1956 – báo tin Trung Tướng Trưởng qua đời. Tiến sĩ Lewis Sorley đã không quên nhắc cho những bạn Ông được nhớ, những lời nhận xét và khen ngợi Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và Sư đoàn 1 Bộ binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa của Tướng Creighton Abrams, vị Tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm 1968 đến 1972. (.. General Truong, in my judgment, is the most professionally qualified officer that ARVN’s got in the field …..……When General Truong commanded the 1st Division, General Abrams had this to say:“ It’s a first-class division. It’s clearly the best troops they’ve got in-country……”
* Và cuối cùng Tiến sĩ Lewis Sorley đã viết cho những bạn của Ông: “ Farewell to one of the great soldiers and a man of incandescent modesty, decency and integrity ”
* Ông đã có thời gian chuẩn bị, và Ông đã muốn khi Ông ra đi tang lể phải được cử hành đơn giản, thật đơn giản. Nhưng những người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa – những người luôn sống cho tình nghĩa huynh đệ chi binh, biết kính trên, nhường dưới – thì không thể nào để một người anh cả đáng kính của quân đội, ra đi trong lạnh lùng, không kẻ tiển đưa.Thế nên đám tang của Ông đã được cử hành trọng thể, với đầy đủ lể nghi quân cách – mà những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa lưu vong, có được – rất đông đảo chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa các cấp, thuộc các Quân, Binh chủng đã đến, để chào tiễn biệt, tiển đưa Ông đến nơi an nghĩ cuối cùng. Chỉ tiếc rằng nơi Ông an nghĩ không phải là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa – bên cạnh mộ phần của hàng ngàn anh linh tử sĩ đã một thời chiến đấu bên Ông, đã đời đời yên nghĩ – mà là nơi xứ lạ quê người, ngàn trùng xa cách quê hương.
Những hình ảnh đông đảo, trang nghiêm và cảm động của tang lể, đã làm những người dân bản xứ ngạc nhiên và thán phuc về tinh thần và kỷ luật tốt đẹp của những người cựu Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – dù đã hơn 30 năm qua, nhưng vẫn như ngày nào – vẫn giữ niềm thương yêu và sự kính trọng đối với thượng cấp, đặc biệt trong những giờ phút sau cùng.
* Một vì sao vừa mất…
* Một cánh dù đả rơi…
* Một vị tướng anh hùng đã vĩnh viễn ra đi…
* Nhưng, “ Anh Hùng Tử, Khí Hùng Bất Tử ”, Ông đã để lại trong lòng biết bao quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa – đã từng anh dũng chiến đấu, vào sanh ra tử với Ông trong những tháng ngày non nước điêu linh – những ngậm ngùi kính mến, tiếc thương.
Và nhất là đồng bào vùng I vẫn mãi nhớ ơn Ông…
* Có thể giờ đây, khí phách anh linh, thanh thản, Ông đã trở về với quê hưong – sau hơn 30 mươi năm trời vì nạn nước, lưu lạc xứ người, với nổi niềm u uất, đau buồn không nguôi, và không muốn tỏ cùng ai – để được xum họp với anh linh của biết bao chiến sĩ, đồng bào Việt
Nam Cộng Hòa, những người đã từng chiến đấu bên Ông, khi quê hương chìm trong lửa khói quân thù, nay đã vĩnh viễn yên nghĩ muôn đời trong lòng đất Mẹ thân yêu. Trong hồi ký It does not take a hero của Đại tướng H. Norman Schwarzkopf, nguyên Tư lệnh Bộ chỉ huy Trung Đông và tư lệnh quân đội đồng minh trong chiến dịch Bão Sa Mạc 1991, tướng Schwarzkopf viết “…General Truong is the most brilliant tactical commander I’d ever known …”, tạm dịch “Trung tướng Trưởng là người chỉ huy chiến thuật kiệt xuất nhất mà tôi từng được biết”.
Tướng Schwarzkopf cũng viết “…Colonel Ngo Quang Truong was General Dong’s chief of staff. He did not look like my ideas of a military genius: only five feet seven, in his midforties, very skinny, with hunched shoulders and a head that seemed too big for his body. His face was pinched and intense, not at all handsome, and there was always a cigarette hanging from his lips. Yet he was revered by his officers and troops- and feared by those North Vietnamese commanders who knew his ability. Any time a particular tricky operation came up, Dong put him in commamnd.” Tạm dịch: “Đại tá Ngô Quang Trưởng là tham mưu trưởng của tướng Đống [Dư quốc Đống]. Ông ta không giống hình ảnh một thiên tài quân sự mà tôi thường nghĩ đến: cao chỉ 5 bộ 7 (chừng 1,70 m), ở lứa tuổi giữa bốn mươi, rất ốm, với lưng gù và có cái đầu dường như quá to so với thân hình của ông. Gương mặt ông nhăn nhúm và rắn rỏi, không đẹp trai tí nào cả, và trên miệng ông luôn có điếu thuốc lá. Thế mà ông được những viên chức và binh lính của ông kính nể – và làm kinh sợ những cấp chỉ huy của miền Bắc, những người biết khả năng của ông. Bất cứ khi nào có một chuyện hành quân mưu mẹo đặc biệt nào đó xảy ra, Đống đặt ông vào nhiệm vụ chỉ huy.”
Trung tá George W. Smith, nguyên cố vấn Sư đoàn 1 Bộ binh, trong bút ký The Siege at Hue viết: “General Truong was tough, disciplined, and dedicated to his military profession. Unlike many of his contemporaries who had climbed the ranks through political influence, nepotism, or cold, hard cash, he had earned his stars on the battlefield. He was viewed as a self-starter, without a hint of corruption or ego. He was regarded by the Americans as unquestionably the finest senior combat commander in the South Vietnamese army.”; tạm dịch: “Tướng Trưởng là một người cứng rắn, kỷ luật và hết lòng với binh nghiệp. Không như một số đồng liêu của ông thăng quan tiến chức bằng quen biết hay lo lót, ông đeo sao trên vai bằng chiến công tại mặt trận. Ông là người cần mẫn, thanh liêm và không tự cao tự đại. Người Mỹ cho rằng ai cũng phải nhìn nhận ông là người chỉ huy chiến đấu tài giỏi nhất của quân đội Nam Việt Nam.”Trong quân đội hồi đó còn lưu truyền câu “Nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng”.
Lê Thy cám ơn bạn đã đóng góp cho baovecovang.wordpress.com thêm tài liệu rất hay về vị Tướng tài giỏi và đáng kính của QLVNCH: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng .
Trân trọng,
phan ung kho hieu cua tuong truong vao nhung ngay thang 3/75 da lam sup do nhung hao quang ma ong ta tao dung duoc trong tran quang tri 1972….
Toi cung nghi nhu ban. Thay vi triet thoai , Tuong Truong nen bat ngo va lieu linh danh thang ra Bac nhu quan Do Thai trong tran chien 6 ngay , chiem thu do Hanoi rat de dang . Luc nay thi ngoai bac khong con su doan chinh quy nao. Cu tung quan danh thang 1 duong ra Hanoi la thanh cong bat giam toan bo Bo Chinh TRi la giai cuu duoc Mien nam.
thu dien tu khong hien tren trang web
Ngô Quang Trưởng
Lê Văn Hưng “Tôi còn Xuân Lộc còn”
Nguyễn Khoa Nam
Phạm Văn Phú
. . . .
Còn bao nhiêu người như thế nữa