| Chống Cộng hay Chống Độc Tài? |
Cũng như nhiều đồng hương sống trên đất tạm dung, tuy không tham gia các tổ chức chính trị vì không có khả năng và điều kiện, nhưng tôi vẫn tha thiết cầu mong nước nhà sớm có tự do dân chủ. Vì vậy tôi tôn trọng và trân trọng mọi hoạt động của các đoàn thể, tổ chức, đảng phái và cá nhân đang đấu tranh cho dân chủ tự do. Với tư cách là một “thất phu hữu trách”, tôi mạo muội có vài ý kiến sau đây nhân kỷ niệm 30 năm thất trận.
Thiết nghĩ đấu tranh thì có nhiều phương cách, tùy theo quan niệm và chủ trương của mỗi tổ chức. Khi viết bài này, tôi không có tham vọng cổ võ cho một chiến lược, sách lược nào riêng biệt. Xin bạn đọc coi đây chỉ là ý kiến của một người nghiên cứu dựa trên những hiểu biết hạn hẹp của mình và căn cứ theo những sự kiện lịch sử được chứng nghiệm. Nếu những gì viết ra giúp ích cho một cá nhân hay tổ chức nào đó có thêm dữ kiện để chọn lựa hay điều chỉnh phương pháp đấu tranh của họ cho có hiệu quả hơn, thì đó là ngoài sự trông đợi của người viết. Trái lại nếu bạn đọc thấy có gì không ổn trong đó, thì xin chỉ giáo.
Nhận định chung
Có mấy dữ kiện lịch sử mà cho đến nay tuyệt đại đa số những nhà đấu tranh cho tự do dân chủ đều chia sẻ. Đó là:
1. Chủ nghĩa cộng sản của Các Mác và Lê-nin là ảo tưởng, sai trái và tàn bạo, đã suýt đưa nhân loại trở về thời kỳ đồ đá. Nó đã đưa đến cái chết oan khiên tức tưởi của trên một trăm triệu người trên thế giới.
2. Cho đến nay chủ nghĩa cs đã phá sản, và các chế độ cs đã cáo chung ở hầu hết các nước, kể cả tổng hành dinh của nó là Liên Xô. Nhưng vẫn còn mấy nước chưa từ bỏ nó, trong đó có Việt Nam.
3. Trong số 4 nước trước đây đã từng bị chia đôi thành hai phe quốc – cộng, thì tại Đức phe quốc gia đã toàn thắng và thống nhất dưới chế độ dân chủ tự do. Hàn Quổc vẫn còn bị chia cắt, nhưng về mọi mặt Nam Hàn đều có ưu thế. Trung Cộng tuy đã chiếm được toàn thể lục địa mênh mông, nhưng phe quốc gia vẫn còn hãn ngữ ở đảo Đài Loan và trở thành một “quốc gia” độc lập trội hơn hẳn lục địa cộng sản về kinh tế. Chỉ có Việt Nam là nơi cs đã thắng và đang bị cs thống trị, và dìm xuống hàng những quốc gia nghèo khó và kém mở mang nhất.
4. Tuy cs thắng tại Việt Nam và rêu rao là mình có công đánh thắng cả Pháp lẫn Mỹ để giành độc lập và thống nhất tổ quốc. Nhưng thực tế phũ phàng cho thấy xương máu của hàng chục triệu người dân Việt đã bị đảng cs lợi dụng vào việc chiếm đoạt, củng cố quyền hành, đề rồi nắm giữ độc quyền thống trị dưới danh nghĩa “chuyên chính vô sản xã hội chủ nghĩa”, trong đó chỉ có những kẻ lãnh đạo đảng hưởng lợi, còn tuyệt đại đa số nhân dân, kể cả một số đảng viên, vẫn phải sống trong đói nghèo và không có chút tự do. Trên văn bản, hiến pháp hiện hành do cs biên soạn quy định các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do tôn giáo… Nhưng trên thực tế chỉ có cán bộ hay tổ chức của đảng mới được ra báo. Đối với các tôn giáo, tuy bề ngoài giáo dân, Phật tử… được tự do đi lễ bái, tổ chức các nghi lễ tôn giáo để che mắt các nhà quan sát thế giới, nhưng bên trong, hoạt động của các giáo sĩ bị hạn chế tối đa về mọi mặt. Đặc biệt quan trọng là không được tự do tuyển dụng, đào tạo cũng như bổ nhiệm giáo sĩ, tăng sĩ… Thực tế này, nếu không khảo sát kỹ, các nhà quan sát thế giới không thể biết được. Nó cũng là bằng chứng không thể chối cãi là tại Việt Nam hiện nay không có tự do tôn giáo, cũng như chẳng có một thứ tự do nào, ngoài tự do ca tụng “bác và đảng”.
5. Vì lẽ trên mà đa số người dân trong nước, cũng như kiều bào ở hải ngoại vẫn nuôi chí giải thế chế độ cộng sản hiện nay để đem lại tự do no ấm cho đồng bào, hòng đưa tổ quốc tới một tương lai tươi sáng, ít nhất cũng như các nước lân bang. Đặc biệt các cựu quân, cán, chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước đây, mặc dù hoàn cảnh khó khăn và tuổi già sức yếu, vẫn tiếp tục “chống cộng” theo những phương cách riêng. Nhưng phải công nhận một điều là các tổ chức đấu tranh chưa có một chiến lược sách lược thống nhât. Thậm chí có nơi, có lúc đã xảy ra những cuộc tranh luận, tranh chấp gay gắt trên báo chí về phương cách đấu tranh.
6. Một thực tế không lấy gì làm phấn khởi và không thể không nói ra là đúng ba chục năm rồi, mà tất cả các nỗ lực về mặt này đều đã thất bại (trước mục tiêu giải thể chế độ CS): Một số nhân vật hay tổ chức dám liều mình xả thân và/ hoặc đưa người xâm nhập vào quốc nội để đặt một hạt nhân cho cuộc đấu tranh bằng vũ lực, hay bằng tuyên truyền và đấu tranh chính trị, văn hóa… đều bị giết, hay bị bắt, bị cầm tù tại quốc nội, hay tại các nước lân bang. Trong số đó có những tên tuổi được mọi người biết: Trần Văn Bá, Hoàng Cơ Minh, Nguyễn Đình Huy, Nguyễn Đan Quế, Võ Đại Tôn, Trần Hồng, Nguyễn Ngọc Hạnh, Lý Tống…
Khẩu hiệu CHỐNG ĐỘC TÀI
Vì lẽ đó một số nhà trí thức trong đó giới trẻ chiếm đa số muốn đưa ra một phương cách đấu tranh riêng. Họ không muốn tiếp tục dùng từ chống cộng như các bậc anh trong chế độ Cộng Hòa ở miền Nam trước đây. Nghĩa là thay vì nêu chính nghĩa chống cộng, họ chọn một khẩu hiệu nhẹ nhàng hơn là: chống độc tài. Họ đưa ra mấy lý do sau đây để biện minh cho sự lựa chọn này:
(1) Ngày nay chủ nghĩa cs đã phá sản, chẳng còn mấy ai tin ở học thuyết Mác Lê nữa. Ngay ở Trung Quốc và Việt Nam những nhà lãnh đạo cs cũng mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác vốn là sự cuồng tín của họ từ trước. Họ chỉ còn bám lấy cái vỏ “xã hội chủ nghĩa” (xhcn) còn cốt lõi của nó thì họ đã đoạn tuyệt từ khi Liên Xô sụp đổ và tan rã rồi. Ví dụ về kinh tế, theo đúng đường lối của chủ nghĩa Mác Lê, thì phải là kinh tế chỉ huy, tập thể hóa, hợp tác hóa… Nhưng từ cuối thập kỷ 80 thế kỷ trước Trung Cộng và Việt Cộng đều minh thị đưa ra đường lối kinh tế thị trường, nghĩa là chính sách kinh tế tự do kinh doanh mà các nước tư bản áp dụng, tuy rằng họ còn cố cho nó cái vỏ xã hội chủ nghĩa bằng cách thòng theo sau mấy chữ “theo định hướng xhcn“. Vì thế chống cộng là lạc hậu, vô lối, chẳng khác gì đấm vào không khí.
(2) Về phương diện sách lược, muốn đấu tranh cho dân chủ tự do cần nhắm vào đối tượng các cán bộ và cựu cán bộ cs trong nước. Vì họ là những người có kinh nghiệm về những chiến lược, sách lược, và mọi mưu mô xảo trá của cs. Người ngoài hiếm có ai thông hiểu về thủ đoạn độc địa của cs bằng họ. Hơn nữa họ lại ở ngay trong lòng đảng; khi chiến đấu họ sẽ làm nội ứng, đánh từ trong đánh ra, cs sẽ rất khó đối phó. Trong số trên ba triệu đảng viên hiện nay có không biết bao nhiêu kẻ bất mãn, hoặc đã phản tỉnh, vì nhìn thấy rõ mình bị lợi dụng. Và cũng có rất đông đảng viên không hề hiểu biết về chủ nghĩa cs, chỉ vào đảng để dễ có công ăn việc làm, hay vì những lý do khác. Đó là chưa kể nếu tổ chức được để họ nằm vùng kín đáo ở trong, đến khi có hiệu lệnh, xuất kỳ bất ý cùng một lúc đồng nổi dậy thì bọn lãnh đạo đành thúc thủ. Nhưng, nếu ta nêu khẩu hiệu chống cộng thì khó giành được sự đồng tình hay ủng hộ của những đảng viên đó. Vì họ từng là Cộng Sản, hoặc vẫn còn là cán bộ. đảng viên cộng sản. Họ không thích bị các tổ chức đấu tranh vì tự do dân chủ liệt họ vào đối tượng đấu tranh chính.
(3) Trong giới trí thức ở hải ngoại, nhất là giới trẻ, vì nhiều lý do, phần đông không ưa, dị ứng với mấy từ chống cộng, vì nghĩ rằng đó là cái mà các chế độ cũ đã làm mà thất bại. Họ muốn có một lối đấu tranh mới. Và cái mà họ thấy có thể làm dễ dàng là chống độc tài.
(4) Các tổ chức nhân quyền (ví dụ Mạng Lưới Nhân Quyền), tự do tôn giáo (Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Cho VN), hay tự do dân chủ (như Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên chẳng hạn) vân vân… sẽ dễ thống nhất tổ chức dưới khẩu hiệu chống độc tài.
(5) Cộng sản từ bản chất là độc tài. Vậy chống cộng hay chống độc tài cũng là một, chỉ khác về mặt ngữ thuật thôi. Tóm lại nói chống độc tài mà không nói chống cộng chẳng qua chỉ là một sách lược (tactics).
Chính nghĩa CHỐNG CỘNG
Trong khi đó một số người có kinh nghiệm chống cộng – thường là lớp cao niên – và những quân, cán, chính… trong chế độ cũ không chấp nhận từ bỏ khấu hiệu chiến lược chống cộng. Những người này dựa vào những lý lẽ sau đây:
1) Chống cộng, trên bình diện quốc tế, là đường lối xuyên suốt từ đầu tới cuối, là chính nghĩa từ ban đầu của cuộc chiến, bắt đầu từ khi cs tuyên ngôn phá bỏ quyền tư hữu (tuyên ngôn CS) của toàn thể nhân loại. Chống lại CS, để bảo vệ quyền tư hữu, là quyền thiêng liêng trời phú của nhân loại, là nguồn gốc của mọi quyền tự do khác. Chống cộng sản để bảo vệ sinh mạng của hàng trăm triệu con người đang bị cộng sản đe dọa. Chống cộng để bảo đảm tương lai cho nhân loại, cũng tương tự như trước kia chống Quốc Xã Đức để giải phóng một nửa thế giới khỏi bị diệt vong… là điều chính đáng, là chính nghĩa sáng ngời.
2) Chống cộng đã là điều chính đáng, là chính nghĩa thì dù có bị thua ở địa phương, hay ở một giai đoạn thời gian vẫn luôn là chính nghĩa, không được vì lý do. thua một trận, hay vì sách lược đấu tranh giai đoạn mà từ bỏ. Đó là về nguyên tắc.
3) Còn về chiến lược, sách lược, nay cs đã chứng tỏ là phá sản trên đại thể, và tại tổng hành dinh của cs là Liên Xô, thì nó đã ở vào thế yếu. Muốn thắng nó tại Việt Nam không thể vì lý do gì thay đổi khẩu hiệu chiến lược này. Phải thừa thắng (trên địa bàn thế giới) xông lên hoàn tất cuộc chiến thắng (tại VN).
4) Tuy tại TQ và VN đảng cs không còn áp dụng đường lối kinh tế chỉ huy và hợp tác hóa theo kinh điển Mác-xít nữa. Nhưng đảng cs vẫn còn thống trị VN. Và chúng vẫn áp dụng những phương pháp bạo lực, đàn áp triệt để theo đúng chính sách muôn đời của cs.
5) Nói bản chất của cộng sản là độc tài thì không đầy đủ và không hoàn toàn đúng. Bản chất của cs là sự ÁC. Và cái độc tài của cs không giống bất cứ nền độc tài nào khác. Còn dân chủ dù tiên tiến nhất như Mỹ cũng không phải là toàn hảo. Những người và những chế độ dân chủ vẫn thường tố cáo nhau là độc tài. Bởi vì độc tài có nhiều mức độ khác nhau và không phải trong mọi trường hợp độc tài đều xấu (độc tài của Lý Quang Diệu ở Singapore chẳng hạn). Thậm chí có những lúc không thể không áp dụng tạm thời một hình thức độc tài – nhân từ (chữ của cựu giám đốc CIA William Colby), không tàn ác – nào đó. Ngay tại Hoa Kỳ là nước có truyền thống dân chủ nhất thế giới, trong thời nội chiến, Tổng Thống Abraham Lincoln cũng hạn chế một phần các quyền tự do dân chủ hiến định khiến ông bị phê bình là có xu hướng độc tài.
6) Vì thế nói chống độc tài không giản dị và không có sức mạnh bằng nói chống cộng sản đại ác, kẻ thù của con người, của nhân loại, là điều hết sức dễ hiểu và đơn giản.
7) Sau cùng chống cộng không những là chống chủ nghĩa cs của Marx và Engels (đã hết thời), mà còn là chống cái đảng Cộng Sản Việt Nam hãy còn đang đè đầu bóp cổ nhân dân ta.
Thành quả của hai hình thức đấu tranh
Xem ra đôi bên đều có lý. Nhưng nếu nhắm mục đích giải thể chế độ cs trong nước, và cứ nhìn vào hiệu quả của cuộc đấu tranh của cả hai phía thì thấy không bên nào chứng tỏ được là mình thành công hơn bên kia. Thậm chí có thể nói chưa bên nào thành công cả. Tại sao vậy? Bởi vì chưa bên nào nhằm đúng mục tiêu chiến lược tối hậu, và chưa bên nào tranh thủ được quần chúng trong nước. Và bởi vì chưa có tổ chức nào quy tụ được đông đảo nhân sự để có thể phân công nắm vững tình hình quốc nội và quốc tế, phân công làm những công tác tình báo, tuyên truyền, vận động quần chúng quốc nội.
Nhiều đoàn thể tổ chức rầm rộ những cuộc đại hội toàn quốc, toàn thế giới, nhưng phần nhiều dường như chỉ để phô trương mà không có chương trình hoạt động cụ thể. Sau đại hội xem ra đâu lại vào đó. Tình hình trong nước vẫn không có gì khả quan hơn.
Nếu chỉ chống cộng hay chống độc tài bằng cách ngồi ở hải ngoại hô hào dân chủ, tố cáo những vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo của cộng sản trong nước, mà người dân trong nước chẳng hề hay biết, chẳng hề nghe thấy để hưởng ứng, thì chẳng đáng kể công.
Một đôi khi những tố cáo đó có tới tai những tổ chức nhân quyền hay ân xá quốc tế, hội phóng viên không biên giới (chẳng hạn v.v…) thì sự can thiệp của những tổ chức ấy cũng không đem lại hiệu quả mong muốn. Và dù có đôi khi đạt được một kết quả nào đó, như giảm án cho một tù nhân chính trị, thì kết quả đó cũng không làm nao núng hay suy yếu cái chế độ độc tài trong nước chút nào. Trái lại càng chứng tỏ cho người dân trong nước và thế giới thấy quyền hành và lợi thế của cs. Nó cho cái gì được cái đó. Nó có bất chấp sự can thiệp của ngoại quốc quốc tế cũng chẳng làm thay đổi được chế độ.
Trường hợp những vụ án Trần Khuê, Phạm Quế Dương, Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình v.v… gần đây, hay vụ linh mục Nguyễn Văn Lý, hòa thượng Thích Quảng Độ, tiến sĩ Hà Sỹ Phu, tướng Trần Độ… trước kia chứng tỏ điều đó. Xin nhắc lại cho rõ hơn, một chế độ độc tài tuyệt đối đại ác, khi nhượng bộ các yêu sách của các lực lượng hay tổ chức đấu tranh ở bên ngoài mà tha hay giảm án cho một tù nhân chính trị thì không hề bị suy yếu, mà càng chứng tỏ trước dư luận thế giới là nó có quyền tha, quyền bắt. Kết quả của cuộc tranh đấu như vậy cũng chỉ gián tiếp tăng thêm thế lực cho độc tài cs mà thôi.
Viết tới đây chúng tôi bỗng nhớ đến một chiến thuật cố hữu của cộng sản là “bắt lấy hai để giữ lại một”. Ví dụ, muốn cho dư luận thế giới ủng hộ, hay bớt lên án, chúng bèn mở chiến dịch bắt thêm một số người mà chúng tố cáo là gián điệp hay gây rối. Đợi khi các tổ chức ân xá quốc tế hay nhân quyền yêu cầu trả tự do cho những người ấy, chúng bèn phóng thích hay giảm án cho một vài người ít nguy hiểm nhất. Và như vậy xem ra có thể chứng tỏ là chúng đã có tiến bộ về nhân quyền, được dư luận hoan nghênh. Nhưng người ta quên đi rằng còn nhiều ngươi khác mà chúng mới bắt vẫn còn bị giam giữ, hành hạ.
Đó là nói tóm tắt và giản lược về cái gọi là chiến lược sách lược chống độc tài của một số tổ chức đấu tranh vì nhân quyền, vì tự do tôn giáo hay vì dân chủ đa nguyên.
Về những hình thức đấu tranh rầm rộ và có phần “bạo động” hơn – như những người không tán thành chúng thường phê bình và gọi thế – nếu nhìn lại một cách bình tĩnh và khảo sát một cách thấu đáo ta cũng thấy hiệu quả chẳng đáng lấy làm lạc quan đối với mục đích chung cuộc là giải thể chế độ cộng sản cực quyền, đại ác.
Những người đã có kinh nghiệm với cộng sản, nhất là từng là nạn nhân của cs không ngừng tranh đấu bằng mọi hình thức, kể cả tương đối bạo động, nhằm tố cáo với dư luận thế giới rằng cs không có chính nghĩa, để cuối cùng đóng góp vào việc giải thể chế độ cs ở trong nước. Đem một toán quân xâm nhập biên giới để rồi bị giết như Hoàng Cơ Minh, hay bị bắt, bị bỏ tù như Võ Đại Tôn; lấy xe ủi đất đâm vào cổng tòa đại sứ vc ở Paris như Trần Hồng; dùng tài tháo vát sử dụng (chứ không phải cướp) máy bay dân sự cúa Thái Lan xâm nhập không phận Sài Gòn rải truyền đơn hô hào dân chúng nổi dậy chống cs, vào dịp tổng thống Mỹ Bill Clinton và phu nhân viếng thăm VN như Lý Tống; hay những hành động mưu sát, răn đe liều lĩnh của những Nguyễn Ngọc Hạnh, để rồi bị giam, giải tòa, nhưng lợi dụng diễn đàn tòa án, đứng trước vành móng ngựa kể tội và lên án cs v.v… đều là những hành động được một số người ca ngợi là anh hùng, nhưng một số khác chê là nông nổi, liều lĩnh vô tổ chức.
Nhưng xét cho cùng không thể phủ nhận đó là những biến cố gây được phần nào sự chú ý của dư luận thế giới. Chỉ tiếc rằng những hành động đó không được phối hợp với nhau, không do một tổ chức thống nhất điều động theo một chiến lược sách lược chung, mà chỉ là những cố gắng lẻ tẻ, gan dạ của cá nhân vì quá phẫn uất hay căm thù. Những hành động đó cũng mau chóng lắng dịu, phai nhạt rồi rơi vào quên lãng, vì thiếu tổ chức, nên không được nuôi dưỡng và nhân lên thành sức mạnh.
Tại sao hành động mưu sát liều lĩnh năm xưa ở Sa Điện của Phạm Hồng Thái (nhắm vào toàn quyền Merlin) đã như một mồi lửa châm ngòi cho một phong trào chống Pháp nổi dậy. Mà những hành động gan dạ và cũng liều lĩnh của những người trên lại chìm vào quên lãng? Thiết tưởng đó là một câu hỏi mà những tổ chức, đoàn thể, đảng phái chống cộng (và chống độc tài) nên suy ngẫm để giải đáp.
Về những vụ đấu tranh tập thể khác có tính cách bất bạo động hay ít bạo động hơn cũng gây được sự chú ý mạnh mẽ và tương đối rộng lớn, không thể không kể đến vụ gần 5 chục ngàn người biểu tình, canh thức, chống Trần Trường trưng bày hình ảnh Hồ Chí Minh ở quận Cam, việc chống triển lãm hình ảnh ca tụng cs ở Oakland hay vụ 12 nhà trí thức và nhân vật tiếng tăm trong chế độ cũ ủng hộ và đứng chung đơn kiện của cựu đại úy biệt kích Nguyễn Hữu Luyện, mà có người ca ngợi là “người tù kiệt xuất”, nhắm vào tổ chức William Joiner Center của trường đại học Massachusetts, tuy không thắng kiện, nhưng cũng gây được sự chú ý của dư luận địa phương và trong cộng đồng người Việt hải ngoại.
Đặc biệt là kết quả của việc các cộng đồng người Việt ở một số địa phương đã tranh đấu thắng lợi để 6 tiểu bang, 3 quận hạt (counties) và hơn 70 thành phố trên toàn nước Mỹ thông qua dự luật nhận lá quốc kỳ của VNCH làm cờ chính thức của cộng đồng người Việt tại địa phương.1
Tuy nhiên tất cả những hình thức đấu tranh ấy không có kết quả trực tiếp cụ thể đối với mục đích tối hậu là giải thể chế độ cs ở VN. Về vụ kiện tốn công tốn của, mất khá nhiều thì giờ này, có người nghĩ (không phải không hữu lý) rằng nếu lợi dụng sự có mặt của Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi để phản tuyên truyền bằng cách chinh phục hai người này để họ đào thoát, xin tị nạn chính trị thì còn có tác dụng hơn. Bởi vì Nguyễn Huệ Chi là con giáo sư Nguyễn Đống Chi – một bạn học cũ của giáo sư Lê Hữu Mục – chỉ bất đắc dĩ hợp tác với cs chứ trong lòng không ưa gì cs.2 Việc này có lẽ cũng không phải dễ, nhưng chắc chắn không tốn công tốn của và chất xám của một chục nhân vật có địa vị trong chế độ đệ nhị CHVN.
Hơn nữa đánh trung tâm WJC chỉ là tỉa cái ngọn, chứ chưa động gì được tới cái gốc là thần tượng HCM (cha già dân tộc) đã khiến thế giới và đa số các đại học và trí thức Mỹ thừa nhận chế độ cs hiện nay trong nước là hợp pháp và hợp lòng dân. Ta tỉa cái cành, cái ngọn mà không lo đẵn cái gốc thì chỉ tổ làm cho nhiều ngành nhiều nhánh khác đâm chồi mà thôi. Đó là nói về nguyên tắc và đại thể. Còn nếu chỉ xét về nỗ lực cá nhân, thì dĩ nhiên không thể không ca tụng và tuyên dương chiến sĩ Nguyễn Hữu Luyện. Và cũng phải nhận rằng, công việc tỉa những cái nhánh cây cũng phần nào giúp cho việc đẵn cái gốc dễ dàng hơn.
Nhân vụ này tường cũng nên nói vài lời về việc đả kích ứng cử viên John Kerry đã từng cùng với Jane Fonda hô hào phản chiến hồi cuối thập kỷ 60, đầu thập kỷ 70. Công kích ông ta cũng chỉ là tỉa cái nhánh con, mà quên cái gốc là thần tượng HCM. Vì lúc ấy truyền thông Mỹ và thế giới đã từ lâu ca tụng HCM là nhà yêu nước, lặp lại luận điệu tuyên truyền của phe Cộng rằng Hồ chí Minh có chính nghĩa. Vậy việc phản đối chiến tranh của (đế quốc) Mỹ đang chống lại Việt Nam do một nhà ái quốc lãnh đạo là việc chính đáng. Phản chiến có chính nghĩa. Còn tham chiến là phi nghĩa. Đó là một phần lý do giải thích tại sao trong cuộc tuyển cử vừa qua đa số người không coi việc John Kerry đã từng phản chiến là một cái tội, vẫn bầu cho ông ta. Nếu không có một số đông Kị Tô hữu sùng đạo vì tán thành những giá trị đạo đức trong chương trình hành động của Tổng Thống Bush mà rủ nhau đi bầu thật đông, thì John Kerry đã thắng lớn rồi.
Vì vậy chiến tranh là phải có chiến lược, mà chiến lược thì phụ thuộc vào mục tiêu tối hậu là thần tượng HCM mà ngày nay chúng ta cần đánh đổ, chứ không phải những John Kerry, hay Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huê Chi, Trần Văn Thủy, Trương Vũ vân vân…
Xin mở một dấu ngoặc để nói về nhà trí thức trẻ này. Tôi thêm hai chữ Trương Vũ viết nghiêng vào danh sách trên, sau khi thấy ông trở nên đối tượng của không biết bao bài báo gần đây của hàng chục cây viết “cứng cựa”, kẻ khen người chê, trở thành đầu đề của một thứ bút chiến kiểu mới. Cứ vểnh tai lên mà nghe những VIP KK, Sức Mấy, Tú Gàn, Đào Nương, Đại Dương… và cả Công Tử Hà Đông, -toàn những vị từng là nạn nhân của cs không bao giờ bị lầm về HCM, hay các mưu chước quỷ quyệt của cs,- nói về Trương Vũ và “đồng bọn” thì quả tình “đã con ráy” lắm. Nhưng xin lỗi quý vị. Theo tôi không phải bây giờ mới có những nhà trí thức lầm về Hồ Chí Minh, hay về mưu mô của cs. Từ 1945 trí thức Việt Nam, kể cả những đại trí thức cỡ Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường hay Trịnh Đình Thảo, Dương Đức Hiền, Nguyễn Xiển, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Bách Khoa vân vân và cả những nhà cách mạng tên tuổi như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh (nhất là ông này là người đã ký chung với Hồ Chí Minh hiệp định sơ bộ 6-3-46), Nguyên Hải Thần, và cả Bảo Đại cũng đã từng có lúc lầm về Hồ Chí Minh.
Bây giờ nếu ta không lột mặt nạ được Hồ Chí Minh để cho người ngoại quốc hãy còn ca tụng ông ta là nhà ái quốc (chi cần mở từ điển bách khoa Anh và Mỹ, những ấn bản mới nhất, thì đủ bằng chứng tại sao giáo sư các trường đại học Mỹ thích chọn người Việt trong nước cs, hơn người Việt ở hải ngoại từng thuộc VNCH đã thất trận nhục nhã mặc dầu các chiến sĩ đã đấu tranh anh dũng, kiêu hùng…, thì đừng trách bất cứ trí thức trẻ nào, mà hãy tự trách chính chúng ta. Chúng ta phải ăn năn, hay bắt Tổ Quốc Ăn Năn, như một trí thức tương đối trẻ đã đặt tên cho sách của ông? Lột mặt nạ của HCM không phải dễ vì nó rất tinh vi, kiên cố do hàng chục cây viết quốc tế nổi tiếng đã bị lầm mà tô vẽ nên. Không phải chỉ lớn tiếng thóa mạ, chế riễu hay mạt sát ông ta là được, mà phải có những pho sách nghiêm túc dùng luận cứ chính xác dựa theo lịch sử, chủ nghĩa và chiến lược, sách lược… mới hy vọng thành công. Và phải kiên nhẫn chấp nhận rằng sự thành công đó cũng chỉ đến một cách chậm chạp, dần dần, nhưng vững chăc.
Bao lâu chưa chứng minh một cách khoa học và đầy xác tín cho thế giới và giới trẻ VN thấy rõ HCM (và cái đảng của ông ta, hiện nay đang cưỡi trên đầu trên cổ nhân dân) không phải là người yêu nước, thì chuyện giải thể chế độ cs mà HCM đã dựng lên còn là chuyện viễn vông.
1. Theo thống kê cuối tháng Tư năm 2005.
2. Về ông này chúng tôi có nói đến trong cuốn Phản Tỉnh Phản Kháng – Thực Hay Hư, chương áp chót.
(xem tiếp trang sau)
Pages: 1 2
Filed under: TÀI-LIỆU, Tâm Sự Nước Non 2



“Cộng Sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng đôc, sinh sôi, nẩy nở trên rác rưởi của cuộc đời.”
(Đức Dalai Lama)
“Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng CS. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà thú nhận rằng: Đảng CS chỉ biết tuyên truyền và dối trá.”
(Cựu Tổng bí thư đảng CS Soviet Mr. Gorbachev)
“Kẻ nào tin những gì CS nói là không có cái đầu.
Kẻ nào làm theo lời của CS, là không có trái tim.”
(Cựu Tổng thống Soviet Putin)
Người dân Mỹ coi Iran và Trung Quốc là các kẻ thù chính của đất nước, kết quả thăm dò ý kiến do công ty Gallup tiến hành cho thấy điều đó.
Theo nghiên cứu này, 32% người Mỹ coi Iran là kẻ thù lớn nhất của Mỹ. Năm ngoái, chỉ số này là 25%. Đứng thứ 2 trong danh sách kẻ thù của Mỹ là Trung Quốc với 23% số người được hỏi.
Nếu với Iran, các nhà xã hội học giải thích sự thù địch của người Mỹ là do chương trình hạt nhân của nước này thì với Trung Quốc, họ cho rằng, “ít ra, một bộ phận người Mỹ lo lắng trước ảnh hưởng kinh tế toàn cầu của Trung Quốc”.
Trong số các kẻ thù của Mỹ, còn có Triều Tiên (10%), Afghanistan (7%) và Iraq (5%).
Một việc cũng kỳ lạ là 1% số người được hỏi cho rằng, nước Mỹ đang đe dọa chính mình. Lọt vào danh sách kẻ thù còn có cả Nhật và Arab Saudi (đều 1%).
Theo Vietnamdefence
Sau khi đọc thêm tin này thì TQ và Iran sẽ bị ghét tăng thêm 20% nữa