|
Câu Ðối Tôn Vinh QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ đã Thung Dung Tựu Nghĩa |
|
| Âm: | Diễn Nôm: |
| Thắng bại hoặc thiên tâm Sinh vi tướng, tử vi thần Thân ninh ngọc toái Long ô tuần đại cục Nghiệp khả bi, danh khả sử Tiết hiệu tùng trinh |
Thua được bởi lòng trời Sống làm tướng, chết làm thần Ngọc nát, ngói lành thân giữ đẹp Nổi chìm theo vận nước Công vào bia, tên vào sử Cỏ nằm, thông đứng tiết nêu cao |
| Giáo sư Phạm Văn Viết 1978 | |

Để tưởng nhớ những anh hùng hữu danh, vô danh đã cao cả hy sinh tính mạng cho Chính Nghĩa Quốc Gia
trong suốt cuộc chiến chống Cộng Sản khởi từ mốc 1945.
|
Xuân Về Nhìn Lại Quá Khứ Ôn Cố Tri Tân: Lịch Sử Phán Xét Một nén hương lòng dâng lên Cố Tổng Thống Trần Văn Hương Thiếu Tá TRẦN ĐÌNH TỰ Audio: 30 Tháng 4 – Viết Cho Người Tuẫn Quốc Slide show pps: Tượng NGŨ HỔ TƯỚNG Thiếu Úy K.Q. NGUYỄN THANH QUAN Cái chết oai dũng của Chuẩn Úy NGUYỄN VĂN PHẦN Tìm Gặp Những Anh-hùng … Đại-tá Nguyễn Hữu Thông Trung Đoàn Trưởng 42 BB – SĐ 22 BB Không bao giờ quên những người CHIẾN-SĨ QLVNCH Ngày cuối cùng của một Tư lệnh tại căn cứ Tân Cảnh, Mùa Hè 72 Chuyện những người Lính tử-thủ An-Lộc
|
|
Những Người Lính Năm Xưa
Người Lính VNCH và Nhân Dân Tự Vệ:
Tuổi trẻ Việt Nam nghĩ về Quân Lực VNCH
|





Chúng tôi có tìm thấy một hài cốt của một quân nhân đã hy sinh tại NHA
TRANG, tỉnh KHÁNH HÒA có thẻ bài ghi rõ:
Họ tên : NGUYỄN VĨNH LÂN
Số quân : 681137969
Loại máu : O +
Nếu ai là thân nhân của quân nhân nói trên xin liên lạc:
Đ.T 0935.899.347
Ni sư Thông Mẫn .
hình như số quân có sự nhầm lẫn : 68/137969
68 có nghĩa là sinh năm 48 , sau dấu / là sáu con số
Người Việt Nam
——————————————————————————–
Ai sinh ra làm người Việt Nam
Mà không có lòng biết yêu nước thương dân Việt Nam
Là người Việt Nam
Ai chẳng anh hùng
Ai không yêu nước
Thương dân Việt Nam
Nếu không như thế
Thì nước Việt Nam
Sao vẫn tồn tại
Cho đến hôm nay
Đã là người Việt
Ai không hào kiệt
Ai chẳng tự hào
Là giống rồng tiên
Con cháu lạc hồng
Có dòng máu nóng
Của đấng trượng phu
Anh hùng hào kiệt
Của Lý thường Kiệt
Của Trần hưng Đạo
Của Phạm ngủ Lão
Quang Trung Nguyễn Huệ
Lê, Lý, Nguyễn, Trần
Cùng trăm muôn họ
Như là Triệu, Trưng
Đã từng xông pha
Đánh đuổi giặc Tàu
Cùng lũ giặc Tây
Là người Việt Nam
Ai không hảnh diện
Ai chẳng tự tin
Trong lòng của mình
Là dân tộc Việt
Rất mực anh hùng
Đã từng hy sinh
Xương máu của mình
Để làm gương sáng
Cho người noi theo
Như Trần bình Trọng
“Ta thà làm quỷ nước Nam
Chứ không thèm làm vương đất Bắc”
Như Nguyễn thái Học
“Đầu ta rơi cho nước Việt mãi còn
Việt Nam muôn năm đời đời bất diệt”
Như Nguyễn khoa Nam
Như Lê văn Hưng
Như Lê nguyên Vỹ
Như Nguyễn văn Phú
Như Nguyễn văn Long
Như Hồ ngọc Cẩn
“Thà là ta chọn cái chết anh hùng giữ tròn khí tiết của đấng hùng anh, anh hùng nước Việt chứ không bao giờ đầu hàng Cộng Sản ”
Hay như các anh
Các chị Việt Nam
Hiền nhân quân tử
Hiền tài nước Việt
Yêu nước thương dân
Một lòng tranh đấu
Vì nước, vì dân
Để cho quê hương
Tổ quốc Việt Nam
Sớm thoát ra được
Gông cùm xiềng xích
Của lũ ác nhân
Tham tàn khát máu
Quỷ đỏ Cộng Sản
Cùng đảng ăn cướp
Cộng Sản Việt Nam
Như Nguyễn văn Lý
Như Nguyễn văn Đài
Lê thị Công Nhân
Như Lê công Định
Trần huỳnh Duy Thức
Như Nguyễn tiến Trung
Cù huy Hà Vũ
Hay như nhạc sĩ
Trẻ tuổi tài cao
Việt Khang, Trúc Hồ
Và bao nhân tài
Anh hùng vô danh
Khắp trời nước Việt
Đã là người Việt
Ai chẳng anh hùng
Ai không hào kiệt
Hỡi toàn dân Việt
yêu thương của ta
Hãy biết thương nhau
Hãy mau đoàn kết
Tha thứ cho nhau
Cùng nhau ngồi lại
Hợp lực cùng nhau
Cùng nhau tranh đấu
Đánh đuổi Cộng Sản
CSVN
CSTC
Ra khỏi quê hương
Việt Nam thương yêu
Của toàn dân Việt
Anh hùng hào kiệt
Khắp nước Việt Nam
Cùng nhau nguyện thề
Hy sinh vì nước
Hy sinh vì dân
Một lòng sống chết
Vì nước Việt Nam
Kính chào đoàn kết và quyết thắng trong tình YÊU NƯỚC THƯƠNG DÂN .
“V”, “VK”
HS. TS. VN
NVN
Những ngừi lính VNCH luôn trong trái tim tôi. Kính trọng, kính phục và nhớ ơn. …muôn đời. Cầu sự bình an, sức khỏe cho tất cả các anh, các chú và các bác còn lại trên cỏi đời nầy. Kính, BP
không còn gì để nói lên những lời khen …qúa hay thật tuyệt vời,bài vở phong phú..mất nước tuổi mới đôi mươi, bây giờ được xem lại những bài viết ,của những người trong cuộc,mới thấu hiểu hoàn cảnh nước nhà. âu cũng là vận nước…mong một ngày không xa Việt nam sớm có dân chủ …Cờ Vàng tung bay khắp mọi nơi ,trên mọi nẻo đường đất nước.
Chung con đời đời nhớ ơn các chú các bác đã bảo vệ Miền Nam thân yêu của chúng ta. Mong sao các bác các chú có linh thiêng hãy phù hộ dân tộc ta.(Quảng Nam)
Công tâm mà nói,cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu chẳng có tội gì cả.Biết bao búa đe dư luận xúm vào nện ông ta không một chút nương tình,lòng tôi cãm thấy bất nhẫn cho thế thái nhân tình.
Phàm làm cấp chỉ huy,khi nhận lệnh triệt thoái thì phải có kế hoạch hẳn hoi chu tất,đãm bảo tuyệt đối trên dưới một lòng,vừa giữ an ninh trên đường triệt thoái và bảo đãm an toàn binh sĩ dưới quyền với mức thiệt hại thấp nhất.
Bằng cách nào để bảo đãm lộ trình an toàn khi rút chạy ???
Xin thưa rằng rút theo kiểu cuốn chiếu.Rút theo kiểu này đoàn quân có thể hổ trợ lẫn nhau và giảm thiểu rẩt nhiều thiệt hại nếu có.Trước tiên,đoàn quân đi đầu có nhiệm vụ mở đường,đụng trận phải dừng lại cố thủ,đợi quân đoạn giữa đến tiếp viện,bị đánh khúc giữa,đòan quân đi đầu và tập hậu phải giải vây.bị đánh khúc sau,thì khúc giữa phải quay lại tiếp ứng.Và đoàn quân khi di chuyển luôn luân phiên nhau ,khi thì tiền quân ,lúc thì hậu quân,luôn hoán chuyển vị trí với nhau,thì chắc chắn địch không thể nào khó dể quân ta.Chúng ta còn có lợi thế là các chiến đấu cơ oanh tạc,hảy ưu tiên chiến đấu cơ dầy đặc cho đoàn quân triệt thoái..Khi địch chỉ biết rượt đuổi cho kịp quân ta,thì làm gì có thời gian lôi phòng không theo!!!
Một tướng bất tài trên đường rút chạy,làm tiêu hao sinh mạng binh sĩ nhiều quá,không tự cho mình là dở,chỉ biết đổ thừa cấp cao hơn.Khi được lênh rút,anh phải biết làm sao rút cho an toàn và giảm mức thiệt hại tối thiểu về sinh mạng cũng như khí tài,đó là trách nhiệm của một cấp chỉ huy tài giỏi.Rút theo nghĩa nhẹ nhàng là di tản chiến thuật,không có nghĩa là tôi bảo anh phải chạy tán loạn,bán sống bán chết,không một kỷ cương trật tự, hổn quan hổn quân..Nếu để cho một đoàn quân rút chạy không có trật tự,đó là kẻ chấp hành lệnh không có thực tài,đã không có tài cán thì đổ tội cho ai đây.
Bởi vậy,ông Thiệu không có tội khi ban lệnh triệt thoái,tội là những ông tướng tá hữu dõng vô mưu.
Nói như vậy đúng nhưng chưa đủ.
Việc triệt thoái khỏi cao nguyên lẽ ra phải được thực hiện từ trước rồi. Ông Thiệu đợi nước đến chân mới nhẩy, đã vậy lệnh triệt thoái còn được yêu cầu phải giữ bí mật, lẽ dĩ nhiên đến khi dân chúng thấy quân đội lẳng lặng rút đi, họ phải chạy theo quân đội, hỗn loạn là chuyện đương nhiên.
Là một cấp lãnh đạo, lẽ ra ông Thiệu phải nhìn thấy trước được cái ngày Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam, phải thấy được rằng đất nước sẽ bị rơi vào thế khó, nhưng rốt cuộc ông và các cấp lãnh đạo chẳng có một hành động đáng kể nào để mà chuẩn bị từ trước cả.
Tuy vậy ông Thiệu cũng có những điểm rất đáng phục. Ông chống Cộng tuyệt đối, không thỏa hiệp không thương lượng; sau nầy trong cảnh nước mất nhà tan, ông sống lặng lẽ, sẵn sàng nhận trách nhiệm. Sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam là do nhiều yếu tố, không thể đổ hết lên đầu ông Thiệu, nhưng cũng không thể nào bào chữa rằng ông không có lỗi được.
anh noi rat dung.ong Thieu qua co nhieu diem sai lam .nhung toi rat than phuc va kinh trong ong ta sang sang nhan moi trach nhiem
khong nhu ai kia ….viet sach bao v..v.. tu bao chua cho minh khong
ra gi ca that la nhuc….
Thêm một Nghị Quyết Cờ Vàng tại Eastern Washington State, USA
Spokane, WA
15/2/2011
Kính thưa quý Đồng Hương Tỵ Nạn Cộng Sản khắp nơi thân mến,
Nhật Tùng xin được thông báo đến toàn thể quý vị thêm một tin vui sau Tết Tân Mão; rằng Nhật Tùng vừa nhận được thư thông báo của thành phố Millwood, thuộc địa hạt Spokane County, miền Đông tiểu bang Washington thông báo rằng City of Millwood đã công nhận Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng của Người Việt Tự Do chúng ta tại vùng Eastern of Washington.
Ngày 7 tháng Hai năm 2011 vừa qua, ông Thị Trưởng Daniel N. Mork đã ký và đọc Proclamation Nghị Quyết Cờ Vàng trước Hội Đồng Thành Phố Millwood. Và ngày chính thức để Ghi Nhớ Nghị Quyết Cờ Vàng sẽ là ngày thứ Tư, 16/2/2011.
Để nhắc lại, ngày 18/1/2011 tại thành phố Liberty Lake, WA cũng đã công nhận Nghị Quyết Cờ Vàng cách nay chưa đầy một tháng, và thành phố Millwood là thành phố thứ hai tại Eastern Washington đã công nhận Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng của Người Việt Tự Do chúng ta. Như vậy, toàn tiểu bang Washington hiện tại đã có (7) thành phố công nhận Nghị Quyết Cờ Vàng.
Kính thưa quý đồng hương khắp nơi,
Đây không chỉ là tin mừng đến riêng cho Cộng Đồng Người Việt tại Spokane hay toàn tiểu bang Washington nói chung, mà đây cũng là niềm vui chung của tất cả Người Việt Tị Nạn CS chúng ta, không chỉ riêng ở Hoa Kỳ mà khắp nơi trên toàn thế giới.
Người Việt Tự Do của chúng ta không chấp nhận chế độ cộng sản, nên đã cắt ruột rời bỏ quê hương sống cuộc sống lưu vong để mưu tìm Tự Do. Cho dù chúng ta có sống trên bất cứ quốc gia nào, và có hội nhập vào ở mỗi quốc gia khác nhau nơi mình đang cư ngụ… dĩ nhiên chúng ta sẽ chọn lá cờ của quốc gia nơi đó như là quê hương thứ hai của mình. Nhưng khi nói đến Người Việt Tị Nạn cộng sản nói chung, thì chỉ có duy nhất một lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ mới là biểu tượng chính thức của Người Việt Tự Do chúng ta ở khắp mọi nơi trên thế giới!
Cho nên, trong mỗi người chúng ta phải có bổn phận gìn giữ lá cờ thiêng liêng ấy trong bất cứ hoàn cảnh nào và trong khả năng mà chúng ta có thể làm được.
Một lần nữa Nhật Tùng xin cám ơn đến anh Trần Trung Dung và toàn thể Anh Chị Em tại Seattle (miền Tây Washington) đã ủng hộ tinh thần cho Nhật Tùng cũng như Cộng đồng Spokane (miền Đông Washington).
Quý mến,
Nhật Tùng
nguồn : http://lyhuong.net/viet/index.php?option=com_content&view=article&id=3701:3701&catid=39:sinhhoatcongdong&Itemid=58
Đáng kính!
Kính xin quí vị tiền bối cho TH biết từ năm 1955 tới 1963 thời VNCH có mấy cuộc bẩu cữ. Chân thành cám ơn quí vị.
Mời Xem Bộ Phim Về QLVNCH Rất Độc Đáo
Sunday, 13 February 2011
http://www.youtube.com/watch?v=N_MY46xkm_I&feature=related Tap 1
http://www.youtube.com/watch?v=86yRu17cZ6o&feature=related Tap 2
http://www.youtube.com/watch?v=-7GRy0lBnq4&feature=related Tap 3
http://www.youtube.com/watch?v=XIzRKRrBx7c&NR=1 Tap 4
http://www.youtube.com/watch?v=5KM0daehGNc&NR=1 Tap 5
http://www.youtube.com/watch?v=3Zmymdna2tk&NR=1 Tap 6
http://www.youtube.com/watch?v=YeNb9Ps3yuI&feature=related Tap 7
http://www.youtube.com/watch?v=yUHSP8gARV0&feature=related Tap 8 ( het )
( Do Thuan Do chuyển )
Xin kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ đến Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm một đời vì dân, vì nước.
Và chân thành tri ân đến các anh hùng đã vị quốc vong thân.
Kinh Dien Dan
Doc trong Dien Dan thay nhieu tai lieu ve Co Tong Thong Ngo Dinh Diem va nhieu Ang Tho Van Tuyet tac cua nhieu tac gia .Xin man phep de nghi.
a)Lam sao dich duoc nhung tai lieu nay sang Anh Ngu de cho the he con chau chung ta biet ma Tri An Co Tong Thong Ngo Dinh Diem va cac Anh Hung (Chien Si Viet Nam Cong Hoa)
Than Kinh
Trong An
muon mua quan phuc biet dong quan tai viet nam thi mua o dau ha cac ban oi ????
Bạn có thể đến khu Dân sinh – đường Calmet – Saigon. Trong đó có gần như đầy đủ, tiếc rằng thiếu cái beret nâu chính cống mà thôi.
Mến.
Co doi luc em chi mo uoc duoc mac tren nguoi bo quan phuc ..linh nhay du…nhung doi luc em lai muon mac trong minh bo quan phuc Biet Dong QUAN…mong uoc mot ngay se duoc mac bo quan phuc biet dong quan ..di dao tren nhung via he tai Ha Noi…va duoc thay la Co Vang tung bay khap muon loi…
……………..To Quoc Ghi On………..
Thuong ai mau do suong tan
Nho Nguoi linh chien mot doi vi dan
The dang cuu nuoc mang than xa truong
Quoc Gia mai nho doi doi ghi Cong
..chao cac anh cac chi ..cac chu cac bac !!!
..cho em hoi mot cau ?
muon mua quan phuc linh viet nam ocng hoa ..o viet nam thi em phai mua o dau ha cac anh cac chi
NGOÀI TỘI ÁC ĐÓ BỌN HỌ ĐÃ NGANG NHIÊN BẮN CHẾT TR/ÚY PHÁO BINH NGÔ NGHĨA TẠI CĂN CỨ TRẢNG LỚN MẶC DÙ ANH NGHĨA LÀ TÙ NHÂN CẢI TẠO. KHI ĐI TÙ VỀ TÔI CÓ TỚI NHÀ ANH Ở 18 ĐƯỜNG TRƯƠNG QUỐC DUNG QUẬN BÌNH THẠNH NHƯNG GIA ĐÌNH ĐÃ DỌN ĐI VỢ ANH NGHĨA LÀ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC CẦN THƠ THEO TỜ KHAI LÝ LỊCH CỦA ANH
CÁC BẠN PHẢI GHI VÀO LỊCH SỬ DÙM
KỴ BINH PHAN LƯU PHƯƠNG /
Lớp trẻ như tụi em phải làm gì để góp chút công sức đây…..> <
Thuộc thế hệ sau, lớn lên và nhận biết sau 1975, miền nam giải phóng, giờ đọc và xem được rất nhiều hình ảnh, ca khúc lòng cảm thấy hụt hẫng và buồn… Xin cho tôi biết đâu là sự thật, Quốc Gia – Cách Mạng: Ai đúng ai sai ?
tổng thống Nguyễn văn Thiệu không phải là người dở , chẳng qua là do bọn Mỹ thời đó ép ngài quá , nên cớ sự mới xảy ra như vậy , xin kính cẩn nghiêng mình trước anh hồn vị lãnh tụ của tôi ngày xưa .người đã mất rồi nếu không thương tiếc thì thôi xin mọi người đừng lên án người nữa , hãy để người an nghĩ giấc ngàn thu
Tôi rất đồng ý với ông lính già vietnam. Tôi cũng là lính già (nhưng thương phế binh).
Nói cho trúng. Với Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, đó là lựa chọn duy nhất của tôi trong thời kỳ đó. bởi ngoài ông ra, theo thiển kiến của tui, thì không có ai xứng đáng hơn.
Vẫn biết rằng ông không phải là một lãnh tụ tài ba lỗi lạc. Nhưng ông là một người chống cộng.
Nên tui đã bầu ông làm Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa tới hai lần.
Nay ông đã nằm xuống, tôi vẫn mang ơn ông đã đem tới cho tôi sống thêm 9 năm nữa (1967 – 1975) trong một đất nước có hai chữ Tự Do không cộng sản.
Vĩnh biệt Cố Trung Tướng – Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Kính xin Thiên Chúa nhớ tới Tổng Thống của tui.
Kính gởi chị Lê Thy và các bạn đọc (căm thù CS):
Những ai có tấm lòng đối với đất nước, đối với những người đã nằm xuống cho quê hương miền nam VN, không khỏi buì ngùi khi bước vào đây thăm viếng di ảnh của một số chiến sĩ QL VNCH đã ra đi vì nước.
Trong nổi lòng đó, hkbt cảm thấy xót xa cho một người ( thực ra là hai) mà sau hơn hai mươi năm tìm hiểu về người đó, hkbt đã sanh lòng kính phục hết sức, nhưng đồng thời cũng hết sức buồn vì thấy người đó vẫn chưa được tri ân đúng mức:
Đó là cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, người khai sáng ra Việt Nam Cộng Hoà, một nền tự do dân chủ đúng nghĩa nhất trên trái đất này (dĩ nhiên là hơn hẳn cả nền dân chủ ở Hoa Kỳ này rồi! Tôi không nói quá lời đâu các bạn ơi!).
Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã giữ trọn khí tiết cho tới giây phút cuối đời.
Ông là vị minh quân đầu tiên của Việt Nam kể từ ngày vua Quang Trung bị bạo bênh nằm xuống (sau gần hai trăm năm điêu linh của đất nước).
Mấy hôm nay, mỗi khi vào đây nhìn thấy bàn thờ và dinh ảnh của các bậchiền thần trung liệt mà không thấy di ảnh của minh chúa làm cho hkbt cảm thất xót xa trong lòng không ít.
Vì lẽ đó, hkbt xin mạn phép góp chút ý mọn với chị cả Lê Thy là có thể là làm một bàn thờ (online) như trên nữa cho cố TT Ngô Đình Diệm được không, để cho những ai có lòng ngưỡng vọng cụ viết đôi lời mến tưởng mỗi khi vào trang ‘Tổ Quốc Ghi Ơn’ viếng cụ.
Kính,
Hoàng Kỳ Bắc Tiến
***
Sau đây mời các bạn đọc tài liệu mới này về cố TT Ngô Đình Diệm:
TIẾC THƯƠNG
(Nhân ngày giỗ của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Vị Tổng
Thống khả kính đầu tiên của nước Việt Nam Cộng Hòa)
Một ánh sao băng, tắt giữa trời
Giang sơn từ đấy tối thêm thôi!
Thương người nghiã khí tàn cơn mộng
Tiếc bậc tài hoa úa mảnh đời !
Khinh bọn túi cơm, loài rắn rết
Giận phường giá áo, lũ đười ươi
Nếu không phản phúc, không tham vọng
Đất nước giờ đây hẳn kịp người !
Ngô Minh Hằng
***
Pháo thủ Lê Châu Lộc nói chuyện về Cố (late) Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Người viết bài này quen biết pháo thủ Lê Châu Lộc vì vừa là đồng nghiệp pháo thủ vừa cùng chung đơn vị với nhau trong những năm 1956, 57, và 58 tại Bình Thủy Cần Thơ, và Trảng Bàng Tây Ninh.
Anh là một Sĩ quan Pháo binh Việt Nam Cộng Hòa có quá trình phục vụ và thăng tiến khá đặc biệt.
Tốt nghiệp Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Khóa 5 – Vì Dân. Học Pháo Binh Tại Trường Pháo Binh Phú Lợi, tu nghiệp pháo binh ở Châlons-sur-Marnes (Pháp) và Fort Sill (Hoa Kỳ), từng là huấn luyện viên ở nhiều Trường Pháo Binh trong nước (Phú Lợi, Dục Mỹ) và ngoài nước (Fort Sill USA).
Đơn vị chiến đấu đầu tiên Anh phục vụ là Tiểu Đoàn 21 Pháo Binh. Rồi Trường Đại Học Quân Sự, rồi Lữ Đoàn Liên Binh Phủ Tổng Thống.
Cuối năm 1959 Anh là Sĩ quan Tùy viên của Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm cho đến khi chấm dứt Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, 1-11-1963.
Rồi Pháo Binh Quân Đoàn III và Trường Pháo Binh.
Anh giải ngũ theo đơn xin năm 1965, thi tuyển vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Tốt nghiệp Đốc sự khóa 13 và Cao học Hành chánh khóa 5. Nghiên cứu hậu đại học về Quản Trị Phát Triển Xứ Nghèo tại các trường Đại học London, Oslo, Dublin. Tham quan các hệ thống Phát triển và Phòng vệ tại Do Thái và Ấn Độ. Là giảng viên Trường Quốc Gia Công Tác Xã Hội (Saigon).
Cuối năm 1969 Anh tham gia Liên danh Bông Huệ của Luật sư Nguyễn Văn Huyền ứng cử vào Thượng Nghị Viện VNCH.
Liên danh Bông Huệ đắc cử. Anh là Nghị sĩ cho đến 30 tháng Tư Đen, 1975.
Ra nước ngoài, trong suốt 23 năm (1975-1998), cựu pháo thủ Lê Châu Lộc hoạt động ở khắp Á, Âu, Phi, Mỹ cho công việc cứu trợ những người chạy giặc Cộng sản, từ Đông Dương tỏa ra khắp thế giới. Anh về hưu năm 1998 và an dưỡng tuổi già tại Hoa Kỳ. Mặc dầu Anh đang hưu trí, người ta vẫn thấy Anh xuất hiện trong các hoạt động truyền thông, xã hội, chính trị khi cái lão và cái bệnh không “hành hạ” Anh quá mức.
Người viết cũng như những ai từng quen biết Anh trong Pháo binh, trong Thượng viện, hoặc ở các lãnh vực hoạt động khác của Anh đều tìm thấy nơi Anh một người bạn, người cộng sự, người chỉ huy vui vẻ, từ tốn, năng động trong công việc, có tinh thần trách nhiệm, có đạo tâm, và đáng tin cậy.
Người viết nghĩ rằng bạn đọc cũng muốn biết nhân vật sẽ “nói” – dù chỉ là một vài lời đơn sơ về Tổng Thống Ngô Đình Diệm – là người thế nào. Lại nghĩ Binh Chủng Pháo Binh VNCH trước kia, có một pháo thủ như thế trong hàng ngũ, hẳn cũng là hảo sự. Vì muốn “tốt đẹp khoe ra” nên đã hơi dài dòng một chút về Anh Lê Châu Lộc.
***
Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một con người lịch sử. Ông là Tổng Thống đầu tiên của nền đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam, sau chín năm cầm quyền đã bị thảm sát bởi chính kẻ đồng minh Ông tin cậy, bởi chính hàng khanh tướng Ông tạo ra. Khi Ông nằm xuống, những người mưu giết Ông và những kẻ thù ghét Ông đã bêu xấu Ông tàn tệ bằng những điều tiếng bịa đặt bỉ ổi, bằng những sự thật bị bóp méo để chạy tội, để lấp liếm những ý đồ xấu xa, những tâm địa phản phúc.
Đến nay đã 45 năm qua, người đời vẫn còn nhắc tới Ông. Vẫn còn người không ưa, vẫn còn người thương tiếc. Vẫn cỏn lời bôi bác, vẫn còn lời bênh vực. Tuy nhiên những sự thật lịch sử liên quan tới Tổng Thống Ngô Đình Diệm đang dần được sáng tỏ nhờ những phát hiện từ nhiều tài liệu được giải mật, từ lời tuyên bố hoặc bài viết của những người phản tỉnh, và tiết lộ của nhiều nhân chứng đáng tin.
Nhà biên khảo Minh Võ đã công phu gom góp rất nhiều những ý kiến trái ngược đó vào một cuốn sách đặc biệt: “Ngô Đình Diệm, lời khen tiếng chê” nhằm trình bày vàng thau trước công luận và trả lại công đạo cho một vị Tổng Thống mà đức hạnh ngời ngời không ai bôi đen được, và mục tiêu chính trị suốt đời chỉ là mưu cầu độc lập, tự chủ cho đất nước, tiến bộ, tự do cho người dân, và an lạc, thịnh vượng cho đời sống.
***
Đại úy Lê Châu Lộc được Tổng Thống Ngô Đình Diệm chọn làm Sĩ quan Tùy viên vào khoảng cuối năm 1959. Trong thời gian ở gần Tổng Thống, chắc chắn Anh thường được chứng kiến sinh hoạt hàng ngày của vị lãnh đạo quốc gia nhưng không thấy Anh viết ra hoặc kể lại. Hình như Anh không muốn dây dưa vào cuộc đôi co về người đã khuất mà Anh rất mực kính trọng.
Đã nhiều lần tôi (người viết bài này – LVT) ngỏ ý muốn được Anh kể cho nghe những mẩu chuyện nhỏ Anh cỏn nhớ được vể Tổng Thống Diệm. Mãi gần đây Anh mới đồng ý.
Trả lời câu hỏi do đâu Anh trở thành Sĩ quan Tùy viên của Tổng Thống Diệm, Anh Lộc kể:
Chuyện bắt đầu từ khi Anh còn là trung úy, được đề cử tu nghiệp Pháo Binh tại Pháp quốc và Hoa Kỳ. Sau khi mãn khóa Pháo binh và làm Huấn luyện viên Pháo Binh cho các sĩ quan hiện dịch khóa 13 tại Fort Sill Hoa Kỳ, Trung úy Lộc được thuyên chuyển về Trường Đại Học Quân sự Sài Gòn với nhiệm vụ thu thập, soạn thảo, và phiên dịch các tài liệu liên quan đến Pháo binh để thành lập binh thư cho binh chủng này. Sau đó được thuyên chuyển về Liên Đội Pháo Binh thuộc Lữ Đoàn Phòng Vệ Tổng Thống Phủ và được lệnh trình diện Biệt Bộ Phủ Tổng Thống. Nơi đây đưa Anh đến trình diện Tổng Thống và đích thân Tổng Thống giao cho Anh công tác đi kiểm soát lại các địa mốc ranh giới Việt Miên Lào, từ Mỏ Vẹt Hậu Nghĩa cho đến Ashau Quảng Trị, so sánh chi tiết bản đồ và hiện thực, những chỗ thiếu thì thiết lập lại các mốc bằng ciment.
Trong chương trình phát triển an ninh lãnh thổ, khi tiếp nhận các mật khu của Cộng sản để lại, Tổng Thống đã chỉ thị áp dụng kế hoạch “gắp gai bỏ vào bao tử” bằng cách thiết lập một số tỉnh mới tại những mật khu mà đối phương đã gài cán bộ ở lại cũng như chôn dấu quân dụng trước khi rút ra Bắc. Di một số dân có kinh nghiệm về Cộng sản vào đó, tăng thêm đường xá giao thông để dân chúng di chuyển luôn luôn, có sự hiện diện của dân chúng thì sự có mặt của đối phương sẽ ngày một giảm đi. Trung úy Lộc được trao trách nhiệm thám sát vị trí đặt thị xã cho các tỉnh mới thành lập như Phước Long, Quảng Đức, v.v. Đến tận nơi, chọn lựa, và đề nghị những vị trí thiết lập các cơ sở công quyền, doanh trại quân đội, đường xá trong khu vực, hầu phong tỏa, vô hiệu hóa, và hủy diệt các mật khu của đối phương còn tồn tại. Khi được chấp thuận Trung úy Lộc cùng với các bộ, ngành phóng vị trí, đường xá, v.v.
Cũng trong thời gian này TT đã triệu tập một hội nghị gồm 7 Cụ học giả với sự có mặt của Tổng Thống Diệm suốt một ngày Chúa nhật tại dinh Độc lập để bàn và kiếm chữ đặt tên cho mấy tỉnh mới thành lập và thay đổi các tên tỉnh lỵ khAnh có ý nghĩa hay liên hoàn. Phục hồi ngũ Quảng tại miền Nam: Quảng Trị, Quảng Đức (là tên cũ của Thừa Thiên), Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Nghĩa (kiêng tên Ngãi nên đọc nhái là Nghĩa). Bây giờ dùng tên Quảng Đức cho tỉnh mới thành lập giữa Lâm Đồng và Ban Mê Thuột, Quảng Tín chia bớt đất của Quảng Nam.
Sau này mới biết tại sao Trung úy Lộc được gọi trình diện vì theo chỉ thị của Tổng thống, công việc cần một sĩ quan có sức khỏe, biết ngoại ngữ, và giỏi địa hình.
Cuối năm 1959, nhân dịp có hai sĩ quan tùy viên được phép trở về đơn vị theo đơn xin, chính Tổng thống ra lệnh chọn “Anh sĩ quan đen đen ấy”, là Đại úy Pháo binh Lê Châu Lộc, làm Sĩ quan Tùy Viên cho Tổng Thống.
Mời bạn nghe thêm vài mẩu chuyện sau đây:
Về thói quen.
-Tổng Thống có lối sống đơn giản của người độc thân, kê một giường ngủ ngay cạnh văn phòng, và Tổng Thống thường ngủ tại đó. Sáng sáng Tổng Thống tham dự thánh lễ.
Về tiền bạc.
-Tiền lương hàng tháng của Tổng Thống thì Ô. Võ Văn Hải, Bí thư đặc biệt của Tổng Thống lĩnh tiền và giữ. Tiền này thường được chi dùng cho các dịch vụ như trả tiền cơm cho Tổng thống, bà bếp đi chợ nấu ăn cho Tổng Thống và các nhân viên như: Ô Hải, các SQ tùy viên có mặt, v.v., thêm 50 đồng/ngày, và là tiền ủy lạo mỗi khi đi công cán, tặng cho binh sĩ, đơn vị và dân nghèo.
-Về ăn uống
Thực đơn của bữa điểm tâm thường là cháo trắng, hột vịt muối hay cá kho và dưa món. Bữa trưa cũng chỉ là vài cái bắp luộc với tô nước trà bự rót nước nổi bọt, xong nghỉ ngơi độ nửa giờ. Buổi tối bữa ăn nhiều chuẩn bị hơn, cố nhiên là món miền Trung, họ hàng ở Huế vẫn thường gửi đồ ăn vào cho Tổng Thống như cá kho, … Bữa ăn tối nếu có người trong gia đình như các bà chị, Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục thì không khí vui vẻ hơn.
Hôm nào buổi tối có dạ tiệc thết khách thì cố nhiên phải chuẩn bị thực đơn tương xứng, tuy nhiên vẫn có thức ăn thanh đạm riêng dành cho Tổng Thống được mang thêm ra.
Trang phục.
-Quần áo của Tổng Thống do tiệm may Chya đường Lê Thánh Tôn phụ trách và cung cấp, hàng ngày Ông Ẩn lo quần áo. Không có khách thì mặc khăn đống áo dài. Nếu có khách thì Ông Ẩn nhắc và chuẩn bị cho Tổng Thống.
Công việc.
Mỗi sáng Tổng Thống nghe Sĩ quan Tùy viên trình đọc thời khóa biểu trong ngày. Bác sĩ Bùi Kiện Tín thăm hỏi tình trạng sức khỏe của Tổng Thống.
Công việc thì do Ông Võ Văn Hải hay Ông Trần Sử trình, hay nếu quan trọng hơn thì chính Ông Phó Đổng lý Đoàn Thêm hay Ông Đổng lý Quách Tòng Đức, hay đích thân các Ông Bộ trưởng trình bầy. Tình hình Quân sự trong đêm là phần của Tham Mưu Biệt bộ.
Vi hành.
Tổng Thống thường hay ra lệnh đột ngột đi thăm dân cho biết sự tình, đến các chợ, chùa, nhà thờ xóm đạo để tự tìm hiểu tình hình. Có những chuyến thăm Đô Thành mà không có Đô Trưởng tháp tùng.
Một lần năm 1962 sau cuộc bầu cử tổng thống lần thứ hai Tổng Thống thức dậy lúc 5 giờ sáng, gọi Anh Lê Châu Lộc và tỏ ý muốn đến thăm Chùa Ấn Quang để cám ơn quí vị trụ trì đã tham dự cuộc bầu cử vừa qua. Tổng Thống muốn cuộc đi thăm này “không chính thức, tự nhiên, đơn giản, và thân mật”.
Tổng Thống muốn đi sớm để tránh nạn kẹt xe cho Đô Thành. Tổng Thống chỉ thị cho Lộc “Anh lái xe, một xe theo sau là đủ rồi”. Cố nhiên vì an ninh cho Tổng Thống, Đại úy Lộc phải chuẩn bị đầy đủ để bảo đảm an toàn cho Tổng Thống.
Đoàn xe đến chùa có xe Cảnh sát Đô Thành đi đầu không đèn chớp, không còi hụ, tiếp theo là xe Tổng Thống, có Tham Mưu Biệt Bộ và Sĩ quan Tùy viên Lê Châu Lộc, sau cùng là xe hộ tống.
Đến Chùa thì thấy các thầy đã xếp hàng nghênh đón hai bên từ cổng vào.
Tổng Thống ngạc nhiên về sự tiếp đón này và vào trước cửa thiền viện ngỏ lời cám ơn, thăm hỏi các tăng ni hiện diện.
Tổng Thống quan tâm đến việc đào tạo các cán bộ của đạo, muốn hệ thống hóa thành một tổ chức qui củ, phát triển hữu hiệu. Nhân dịp, hòa thượng Thích Quảng Liên đến chào Tổng Thống và cám ơn vì đã được Tổng Thống đặc biệt gửi đi học Tiến Sĩ Giáo dục tại Michigan State University. (Thượng tọa sau này làm Hiệu Trưởng Trường Trung Học Bồ Đề tại Cầu Ông Lãnh Sài Gòn).
Một hòa thượng khác nói với Tổng Thống: ”Chúng tôi buồn Tổng Thống!.
Tổng Thống quay lại hỏi:”Chuyện chi mà buồn”.
Hòa thượng nói: Tổng Thống có tin vui mà không chia sẻ cho mọi người, chúng tôi còn biết năm 1959 Tổng Thống đã dành tiền thưởng 10.000.00 của Tổng Thống khi đoạt giải Massasay làm qùa tặng cho Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Tổng Thống chậm rãi giải thích: ”Ừ, tôi đâu có dùng tiền nên biếu Đức Đạt Lai Lạt Ma xử dụng vào việc cần”.
Có những việc Tổng Thống đã làm trong kín nhiệm, chính Tổng Thống muốn như vậy.
Thế có bao giờ Tổng Thống tỏ ra không bằng lòng không?.
Có chứ, giận dữ là đàng khác. Hôm đó Tổng Thống đi kinh lý tỉnh Kiến Tường, khi đáp xuống phi trường thì đã có dân chúng đứng chờ đón Tổng Thống, nhưng vì thấy chung quanh toàn lá cờ Công Giáo La Mả, Tổng Thống lệnh không xuống quay trở về Sài Gòn. Tổng thống giận cầm cây cane dộng xuống sàn máy bay rầm rầm và nói: ”Đây đâu có phải Vatican?”.
Tuy nhiên chỉ ít phút sau, Ông Tỉnh Trưởng nhận lỗi vì không kiểm sóat nên sự việc đã xẩy ra, 15 phút sau các lá cờ Công giáo La Mã được thay thế bằng lá cờ quốc gia, cũng như biết dân chúng đã đứng chờ đón Tổng Thống từ sáng sớm nên Tổng Thống đã hết giận và xuống máy bay.
Lần thứ hai cũng lá cờ, Tổng Thống đi qua đường Võ Tánh Phú Nhuận, có một cơ sở treo một lá cờ quốc gia quá cũ và rách, Tổng Thống lệnh mời Thiếu tá Xích Tỉnh trưởng Gia Định gập Tổng Thống.
Khi trình diện Tổng Thống chỉ thị phải huấn luyện để người dân biết tôn trọng lá quôc kỳ, không thể treo quốc kỳ cũ và rách.
Lần thứ ba Tổng Thống nhìn thấy một bức hình chụp ngoài Vũng Tầu bức hình tượng Phật ngồi rất đẹp mắt trong một tờ báo ngoại quốc, chung quanh toàn là cờ Phật giáo, không có một lá cờ quốc gia nào. Tổng Thống biên một cái note cho Ông Quách Tòng Đức nói đại ý, trong bất cứ chổ nào đều phải có cờ quốc gia kể cả Chùa, Nhà thờ tôn giáo, nhưng không chưng cờ tôn giáo ngoài khu vực chùa chiền, nhà thờ.
Việc treo cờ phải theo qui luật quốc gia. Việc này Ông Quách Tòng Đức chưa chỉ thị thi hành thì biến cố Miện Trung bùng nổ.
Thế còn sở thích?
Tổng Thống thích đọc sách. Ngày nào Tổng Thống cũng đọc sách báo trước bữa ăn sáng, nhất là các sách photography và Reader’s digest.
Tổng Thống thích chụp hình. Tổng Thống có một bộ collection máy chụp hình. Sau này Tổng Thống thích xử dụng máy chụp hình Polaroid, có thể lấy hình sau mấy phút…
Mỗi khi đi kinh lý, Tổng Thống đều dặn nhớ mang theo máy chụp hình. Có những lần chính Tổng Thống đã chụp hình cho các quân nhân, và cho họ những tấm hình đó để làm kỷ niệm.
Tổng Thống nhìn anh em quân nhân vui thì Tổng Thống thích lắm.
Tổng Thống củng mê kiến trúc, Tổng Thống hay đàm đạo với Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ nhất là thời gian sửa dinh Độc Lập. Có khi nói chuyện qua đêm về kiến trúc.
Tổng Thống thích đi thăm mấy con ngựa. Thỉnh thoảng sau bữa cơm tối, Tổng Thống đi ủng rồi rủ sĩ quan tùy viên đi thăm mấy con ngựa ở phía sau dinh độc lập. Tổng thống vuốt ve mấy con thú vật, đưa tay về phía sau, sĩ quan tùy viện biết là Tổng Thống đang cần đồ ăn cho ngưa, sĩ quan tùy viên bỏ vào tay Tổng Thống vài cục đường, xong Tổng thổng cho ngựa ăn, những lúc như vậy thấy vẻ mặt vui hiện rõ.
- Đừng nghĩ rằng Tổng Thống không biết sự thật, thường bị các nhân viên chung quan lường gạt để thủ lợi. Tổng thống đã dùng những chuyến đi thị sát để tìm hiểu sự tình, thăm dò tin tức giá cả qua bà bếp, nhân viên của nhà may Chya v.v.
Có một lần đi thăm Ấp chiến lược miền Tây, Tổng thống đã đổi lộ trình và đến thăm một nơi công tác đang còn dang dở. Tổng Thống nhìn thấy nỗi lo âu của anh Quân trưởng, đã an ủi rằng ”chưa xong hả, cần thêm thời giờ ? Trình cho Ông Tỉnh Trưởng hay.”.
Lần nữa chính Tổng Thống đã chữa lại cho đúng lời Ông Đô trưởng định giá vật dụng 4 đồng trong khi người bán hàng nói với Tổng Thống 8 đồng.
Về chủ quyền quốc gia.
Chủ quyền quốc gia là điều Tổng Thống tuyệt đối tôn trọng và bảo vệ. Chính Tổng Thống đã biểu lộ ý chí đó bằng lời nói với Ông Đại Sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge khi Ông Lodge ngỏ ý đề nghị Tổng Thống thay đổi nhân sự trong guống máy của chính quyền: “Xin Ông Đại sứ biết rằng Ông Đại sứ đang đứng trước mặt Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa”.
Tổng Thống cũng biết nếu cần nhờ vả và làm theo lời của Ông Đại sứ thì chắc chắn Tổng Thống đã có được sự đảm bảo an ninh cho Tổng Thống và người thân. Nhưng Tổng Thống đã dứt khoát từ chối xử dụng lối giải quyết như vậy. Tổng Thống không sợ.
Tổng Thống Diệm không muốn quân đội nước ngoài hoạt động trong lãnh thổ của mình. Chấp nhận như vậy thì chúng ta đâu còn chính nghĩa, làm sao đối đầu được với đối phương đã luôn tìm cách nói xấu mà lại thêm gian manh, nên Việt Nam đã có cuộc đảo chính và lật đổ Tổng Thống Diệm.
Tổng thống đã cảm thấy trước ý đồ của chính phủ Hoa Kỳ ngay lúc Hoa Kỳ bằng lòng trung lập vùng Đông Nam Á theo đòi hỏi của Trung Cộng, nên nhất quyết không ủng hộ thể chế trung lập tại Lào, điều này đã làm xáo trộn chương trình và kế hoạch của Chính phủ Hoa kỳ tại Đông Nam Á. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mất mặt và người trách nhiệm cố tình trả thù Tổng Thống Diệm bằng cách gởi về Hoa Thịnh Đốn những tờ trình ngụy tạo tình hình Việt Nam đặt chính phủ Hoa Kỳ vào cái thế phải quyết định thay thế Tổng Thống Diệm.
Vụ đảo chính tháng 11- 1963 được Mỹ bật đèn xanh. Và những kẻ nhận tiền làm đảo chánh đã giết hai Ông Diệm, Nhu vì sợ hậu họa.
Về Quân Đội.
Với Quân đội, Tổng Thống Diệm đã hết lòng lo lắng. Việc gửi Trung tá Nguyễn Văn Thiệu đi tham quan các trường Võ Bị Westpoint của Hoa Kỳ, Saint Cyr của Pháp và Trường Võ Bị của Anh quốc, là bước đầu trong ý định của Tổng Thống muốn xây dựng một Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (tại Dalat) mà khi tốt nghiệp, các tân Sĩ quan có trình độ và bằng cấp tương đương 4 năm đại học với kiến thức quân sự hiện đại, vững vàng. Tổng Thổng đã từng vào trường Võ Bị Quốc Gia ăn sáng với các Sinh Viên Sĩ quan khi có dịp ghé qua Đà Lạt. Tổng Thống cũng làm những cải tổ như vậy cho các trường Quốc Gia Hành Chánh và Học Viện Cảnh Sát.
Tổng Thống không chấp nhận việc Quân đội đánh lộn nhau như trong biến cố 1960 hay cuộc đảo chính 1963. Tổng Thống đã bị thảm sát trên đường tới Bộ Tổng Tham Mưu với ý định trao quyền hành cho Quân Đội, sau khi từ chối đi lên Cao nguyên lánh nạn đế phục hồi quyền lực dẹp đảo chính, và từ chối đề nghị xử dụng Lữ Đoàn Phòng Vệ phản công bắt các Sĩ quan trong lực lượng đảo chánh tại Bộ Tổng Tham Mưu gần Tân Sơn Nhất.
Tổng Thống Diệm không chủ trương thăng cấp bừa bãi. Ông muốn duy trì một Quân Đội có khả năng, thực lực, đáng tự hào. Quân nhân phải có trình độ tri thức, kinh nghiệm chỉ huy, tham mưu và chiến công trận mạc xứng đáng với cấp bậc mình nhận lãnh. Điều này đã làm cho một số sĩ quan bất mãn manh tâm tạo phản.
Với Tổng Thống Diệm không có việc “ở lâu thành lão làng”. Sĩ quan chỉ có trìn= h độ tiểu học mà đeo sao làm tướng chắc chắn làm giảm uy tín và năng lực của Quân Đội.
Nói thế có nghĩa là Tổng Thống Diệm không sai sót, lỗi lầm gì sao ?
Là người ai chẳng có lỗi lầm, sai sót. Tôi nghĩ rằng Tổng Thống Diệm quá hiền từ, nên đã có những người lợi dụng điều đó để mưu tư lợi. Nếu có trách thì trách những “nịnh thần” lợi dụng vị thế một thời được Tổng Thống tin cẩn, đã bày đặt ra chung quanh Tổng Thống những hình thức tiếp xúc phong kiến lỗi thời, ví dụ vào gặp Tổng Thống phải xưng hô Cụ – con, khi cáo từ phải đi dật lùi ra cửa. Cũng có người đã trông thấy có kẻ qùy, lạy Tổng Thống trong dịp lễ, Tết trong khi Tổng Thống thẹn đỏ mặt, ngượng nghịu, lúng túng nói không ra lời.
***
Trên đây là những mẩu truyện thật về Tổng Thống Ngô Đình Diệm do Pháo thủ Lê Châu Lộc, Sĩ Quan Tùy Viên của Tổng Thống kể theo những gì mắt thấy, tai nghe. Người viết ghi lại để những ai quan tâm tìm hiểu về Tổng Thống Diệm có tài liệu đọc thêm hoặc tùy nghi xử dụng.
Anh Lộc
Cám ơn Anh đã chia sẻ những điều mắt thấy tai nghe lúc Anh là Sĩ quan Tùy viên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đọc những trang giấy này cũng đã giúp chúng tôi xét lại nhiều vấn đề. Lúc nào Anh cũng giữ đúng tư cách của người Pháo Thủ đại diện cho binh chủng có gần một trăm ngàn người phục vụ dưới cờ: binh chủng Pháo Binh.
Chúng tôi hãnh diện vì Anh.
LVT
(source: motgoctroi)
*
Vào đây khách vãng lai (online) được nhìn thấy di ảnh của một số người con tài ba lỗi lạc thật sự của VNCH. Đã không may sinh vào thời suy vi của đất nước lại không có minh chúa, lắm kẻ tiểu nhân tranh quyền, cho nên chỉ được mang những cấp bật nhỏ nhoi (so với tài đức của họ) và chỉ được làm những công việc chưa tưông xứng với ý chí và bản lãnh của họ. Nhưng những người con này đã cho đời, cho những người bạn “đồng minh” của họ, và cho các thế hệ mai sau nhìn thấy được cái giá trị và phẩm cách sản sinh ra từ nền văn hóa Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm của VNCH (hay còn gọi là Người Việt Quốc Gia).
Tổ tiên của chúng ta, những vị như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Phan Thanh Giảng chắc cũng phải rơi lệ trước tấm lòng trung trinh giữ tròn khí tiết của những người con này.
Vì là bàn thờ online, không đốt nhang thật được, tôi trước là xin gởi đến hương linh của quí anh, và sau là bạn đọc một bàì viết của một vi hữu, mà nội dung của nó có liên quan đến cái căn nguyên nào đã giúp sản sinh ra được những con người như các anh.
Cuối xin ơn trên từ bi gia hộ cho hương linh các anh, và hương linh của tất cả quân dân đã chết dưới bàn tay độc ác của CS VN, đời đời an lạc nơi cõi vĩnh hằng.
Kính bái,
Hoàng Kỳ Bắc Tiến
***
Và sau đây xin mời các bạn:
Hãy trả lại dấu nặng
cho câu tục ngữ ấy
by Lê Hữu
– “Có học phải có hạnh” và “Có học phải có hành”, câu nào đúng?
Một thầy giáo trẻ hỏi tôi câu ấy trong giờ ra chơi của học sinh. Tôi hỏi lại:
– Ở đâu ra câu “Có học phải có hành”?
– Các tài liệu giáo khoa ở trong nước. Và ở đây nữa, đôi lúc cũng thấy ghi như vậy.
Thay vì trả lời câu hỏi, tôi mời thầy giáo trẻ ấy một tách café và kể câu chuyện nhỏ: Một phụ huynh nói với tôi rằng, muốn biết học sinh học được những gì ở một trường Việt ngữ, hãy đến thăm trường ấy trong giờ ra chơi của các em. Ông phụ huynh ấy đã đến thăm trường này, và chỉ sau năm phút đứng quan sát các em trong giờ chơi, ông đã quyết định ghi tên cho con mình theo học tại trường. Ông đã “thấy” gì? Ông thấy các em nhỏ gặp thầy, cô mình đều lễ phép cúi đầu chào “Con chào Thầy”, “Con chào Cô”. Ông thấy lại hình ảnh quen thuộc của một sân trường, một giờ ra chơi của học sinh người Việt ở quê nhà thuở trước. Ông thấy lại hình ảnh quen thuộc của một cậu học trò nhỏ nhiều năm về trước, khoanh tay cúi đầu chào thầy cô giáo. Cậu
học trò nhỏ ngoan ngoãn và lễ phép ấy là ông, và nay ông muốn thấy con mình cũng ngoan ngoãn và lễ phép như thế.
Ngoan ngoãn và lễ phép, đó là chữ “lễ” ở trong câu “Tiên học lễ, hậu học văn”, và là chữ “hạnh” ở trong câu “Có học phải có hạnh”.
Từ sau năm 1975, người ta đã lập lờ, đã nhập nhằng một cách cố ý, đánh tráo chữ “hạnh” bằng chữ “hành” trong câu tục ngữ trên. Rõ ràng là cả “ý đồ” (1) chứ không phải chỉ là chuyện dấu nặng hay dấu huyền. Đánh tráo cái “dấu nặng” ấy là đánh tráo những giá trị tinh thần về luân lý, đạo đức của một nền văn hóa truyền thống. Đánh tráo cái “dấu nặng” ấy là muốn tháo gỡ các khẩu hiệu vẫn treo dán trong các lớp học ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, như “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Có học phải có hạnh”, “Không thầy đố mầy làm nên”. Bôi xóa cái dấu nặng ấy là bôi xóa hình ảnh con người ăn ở có nhân có nghĩa, có thủy có chung, có trước có sau, có trên có dưới, và thay vào đó, con người “mới” với nếp sống “mới”
trong một xã hội “mới” “tiên tiến, ưu việt” (1).
Nhiều người dễ tính có thể nói “‘Có học phải có hành’ thì cũng đúng thôi”. Vâng, cũng đúng thôi; tuy nhiên, đấy là câu tục ngữ mà ông cha ta đã truyền từ đời con sang đời cháu, sang đời chắt, chút, chít…, và thường thì người ta không việc gì phải đi sửa một câu tục ngữ, nếu câu ấy không có gì sai quấy, và nhất là việc sửa đổi không làm cho câu ấy đúng hơn, hay hơn. Hai câu ấy có hai nghĩa khác nhau, và câu được sửa lại–“Có học phải có hành”–chắc chắn không mang ý nghĩa mà ông cha ta và những thầy cô giáo của những thế hệ trước thiết tha muốn truyền đạt cho những thế hệ tiếp nối.
[Tương tự, không việc gì phải đổi chữ “công” thành chữ “ơn” trong câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” mà ai cũng thuộc nằm lòng từng chữ. Tại sao không chịu gọi là “công” cho nó đàng hoàng? “Công” ấy là “công đức sinh thành”, là “công ơn dưỡng dục” (không phải… “cám ơn” một tiếng là xong, như bạn như bè). Muốn thay bằng chữ “ơn” thì ít ra cũng phải đi với chữ “công”, phải là “công ơn”.
Cũng không việc gì phải đổi “Công cha nghĩa mẹ” thành “Ơn cha nghĩa mẹ”. Không việc gì phải “dị ứng” (1) với chữ “công” ấy. Không thể tùy tiện sửa đổi, thêm bớt, chế biến, hoặc giải thích khác đi ý nghĩa các tục ngữ, ca dao đã trở thành những khuôn thước và “chuẩn mực đạo đức” (1) từ ngàn xưa của ông cha ta.
Có những “tu chỉnh” thật nhỏ, rất nhỏ, làm như là… quên, là nhầm lẫn, là vô tình, không dễ “phát hiện” (1) vì ít ai để ý; hoặc nếu có, cũng chỉ nói “Thôi thì ‘ơn’ cũng được vậy”. Việc tu chỉnh ấy là một trong những thủ thuật có chủ ý tạo sự quen mắt, quen tai khiến người đọc, người nghe, nhất là các em nhỏ, dần dà dễ tiếp thu (1). Vì thế học sinh bây giờ mới viết là “Ơn cha như núi Thái Sơn…”, hoặc mới có bài hát “Ơn cha” (mà không phải “Công cha”), hát véo von].
Vì sao những người làm công tác giáo dục ở trong nước lại muốn đổi chữ “hạnh” ra chữ “hành”? (Chắc chắn không phải là đổi cho… vui). Có phải vì cho rằng chữ ấy không cần thiết lắm, hoặc là đã… lỗi thời nên người ta “nhất trí” (1) thay chữ “hành” vào câu tục ngữ ấy, và cho chữ “hạnh” đi chỗ khác chơi. Cho chữ “hạnh” đi chỗ khác chơi có nghĩa là cho những bài học “thảo kính cha mẹ, kính thầy yêu bạn, lễ phép với người già, giúp đỡ người tàn tật, đi thưa về trình, gọi dạ bảo vâng” đi chỗ khác chơi. Thành thử, nếu học trò gặp thầy cô giáo, gặp các bác, các cô, các chú… mà cứ trơ mắt ếch ra thì chắc chắn không phải là lỗi của các em, vì… có được “học” đâu mà “hành”.
Giá dụ học sinh có nêu thắc mắc, “Bố con nói ‘có học phải có hạnh’”, cán bộ giáo dục sẽ nhanh chóng “lên lớp” (1) để đả thông tư tưởng: “Sai. ‘Có hành’, không phải ‘có hạnh’. Viết ‘hạnh’ là… sai chính tả. Không có ‘hạnh họe’ gì hết. ‘Hành’ nghĩa là ‘chấp hành nghiêm chỉnh’, bảo gì làm nấy, nói sao làm vậy. Hiểu chưa?”
Kể từ khi câu tục ngữ ấy bị đánh tráo bằng hàng giả, “hàng nhái” (1), nếp sống của người Việt trong nước không còn như trước nữa. Những phong tục tập quán, những luân thường đạo lý bị kéo sập. Và tất nhiên, ba cái lẻ tẻ như “Công, dung, ngôn, hạnh” hay “Cái nết đánh chết cái đẹp” hay “Trai thời trung hiếu làm đầu / Gái thời tiết hạnh là câu sửa mình” (2)… cũng bị kéo sập theo.
Không ngạc nhiên chút nào khi mà cái nền tảng luân lý, đạo đức ở trong nước đang ngày càng “xuống cấp” (1) trầm trọng. Không ngạc nhiên chút nào khi mà trên các trang báo, trang web hàng ngày nhan nhản, tràn lan những bài báo, những hình ảnh, những khúc phim “minh họa” các thành tích vẻ vang về “hành xử”, “hành sự” (1) của học sinh trong nước, những thành tích “siêu đẳng” khiến các bậc phụ huynh phải… lạnh người.
Cái khác nhau giữa “dấu nặng” và “dấu huyền” ấy là cái khác nhau giữa hai nền giáo dục trước và sau năm 1975 ở trong nước.
Cái nền văn hóa giáo dục không-có-chữ-hạnh ấy rồi sẽ đi đâu, vể đâu? Dường như không mấy ai thắc mắc về chuyện ấy. Dường như không ai cảm thấy mình có trách nhiệm phải trả lời câu hỏi ấy. Người ta mải đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi thiết thực hơn, chẳng hạn “Làm cách nào để nhét tiền đầy túi?” Thử bước vào một tiệm sách lớn ở trong nước, một trong những đầu sách bán chạy nhất là những sách thuộc dạng “Làm thế nào để trở thành nhà kinh doanh giỏi?” Cả nước đua nhau kiếm tiền, đua nhau làm giàu. Khi đã mải mê làm giàu, người ta không còn màng đến chuyện gì khác nữa. Chuyện nếp sống văn minh văn hóa “nâng cấp” (1) hay “xuống cấp” (1) không có ăn nhậu gì tới họ. Làm như đất nước này là đất nước của ai vậy, chứ không
phải “cái nhà là nhà của ta, công khó ông cha lập ra…”
Trở lại chuyện “học” và “hành”, có hai câu hỏi không thể không đặt ra. Thứ nhất, các em học sinh đã “học” được những gì ở trong trường trong lớp? Nói cách khác, người ta đã dạy các em những gì, để rồi sau đó khuyến khích các em hãy mang ra mà… “hành”? Thứ hai, ngoài việc đánh tráo một cái “dấu nặng”, liệu người ta còn đánh tráo những gì khác nữa trong các tài liệu giảng dạy cho học sinh? Tôi thực tình không muốn đẩy câu chuyện đi xa hơn nữa.
Chỉ xin quý thầy cô ở trong nước (và cả ở ngoài nước) một điều: trong kho tàng tục ngữ, ca dao của người Việt không thiếu những câu về “hành”, chẳng hạn “Học đi đôi với hành”, hoặc “Lý thuyết phải đi đôi với thực hành”…, thầy cô cứ việc tùy nghi mang ra mà giảng dạy cho các em, riêng câu tục ngữ “Có học phải có hạnh” vừa thể hiện nét đẹp rất “riêng”, vừa phản ánh bản sắc văn hóa của dân tộc mà chúng ta vẫn tự hào, xin vui lòng cứ để yên đấy, không cần phải bôi xóa cái dấu nặng dưới chữ “a”, và thay đổi “…có hạnh” thành ra “có hành”.
Thật may một điều, ở quanh đây chúng ta vẫn còn có những trường Việt ngữ. Không chỉ dạy học sinh phép tắc lễ nghĩa của người Việt, những trường mà tôi được biết, trong các buổi lễ mãn khóa, ngoài các phần thưởng dành cho học sinh giỏi, luôn luôn có phần thưởng đặc biệt về hạnh kiểm. Một học sinh nhận được bằng khen “xuất sắc” phải vừa học lực giỏi, vừa hạnh kiểm tốt. Qua việc khen thưởng ấy, các thầy cô muốn các em ghi nhớ: “Có Học phải có Hạnh”.
Hãy trả lại “dấu nặng” cho câu tục ngữ ấy. Hơn thế nữa, hãy trả lại môn học “Đức Dục” cho các trường học của người Việt.
lê hữu
(1) Từ ngữ phổ biến ở trong nước
ĐẶT VẤN ĐỀ CẦN XÉT XỬ CUỘC TÀN SÁT Ở HUẾ TẾT MẬU THÂN – LUẬT SƯ TRẦN THANH HIỆP
Luật sư Trần Thanh Hiệp, một luật gia, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền, trụ sở đặt tại Paris. Ông viết bài dưới đây theo lời yêu cầu của Ngày Nay nhân dịp kỷ niệm 40 năm CSVN tổng tấn công và tàn sát 6000 dân lành tại Huế hồi Tết Mậu Thân, 1968.
PARIS – Đêm mồng một Tết năm Mậu Thân (30 tháng 1 năm 1968), 12 ngàn quân cộng sản đã nổ súng tấn công thành phố Huế, chiếm đế đô cũ của nhà Nguyễn trong 26 ngày.
Chiến dịch Đông Xuân, cửa ngõ đi vào tội ác
Cuộc binh biến này là một trong những cao điểm của Chiến dịch Đông-Xuân, với một quân số gần 200 ngàn người gồm cả bộ đội chính qui lẫn du kích, chính ủy, cán bộ cộng sản xâm nhập từ miền Bắc cũng như tuyển mộ tại chỗ, mà Hà Nội đã mở ra ở chiến trường miền Nam, vào ba năm cuối thập niên 1960, trong ý đồ tạo thế mạnh trên chiến trường để áp đảo trên bàn hội nghị nếu buộc phải đi vào cuộc thương lượng.
Ngày thứ 27 những tay súng xâm lăng Huế đã bị quân lực Việt Nam Cộng Hòa cùng với quân đội Đồng minh đánh bật ra khỏi những nơi họ chiếm đóng. Các trận đánh đã chấm dứt, một trong những việc khẩn cấp trong khi chờ đợi cuộc sống bình thường trở lại trên miền sông Hương núi Ngự là lo kiểm điểm thương vong. Đã không có cuộc kiểm tra dân chúng thật sự nào được thực hiện. Nhưng đại cương, chỉ biết rằng tính tới tháng Ba/1968, theo thống kê của nhà cầm quyền thì có 1.900 dân thường được đưa vào bệnh viện vì thương tích chiến tranh và khoảng 5.800 người bị Cộng sản bắt đi mất tích. Và cho đến bây giờ, tất cả những người này coi như đã chết. Nhưng họ đã chết như thế nào?
Đã có lúc người ta tưởng rằng đó là những bí mật đã bị chôn vùi dưới lòng đất và trước sau gì thì thời gian cũng sẽ xóa hết vết tích thôi. Nhưng không ngờ rằng chẳng bao lâu sau sự thật đã dần dần hé lộ. Và một loạt tội ác ghê rợn vì mức độ dã man làm chỗi dậy lương tâm loài người lần lượt được vạch trần ra trước ánh sáng. Vô số tử thi được tìm thấy rải rác, hay tập trung trong những hố chôn tập thể, ở những vùng chung quanh Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên.
Bốn mươi năm đã trôi qua. Không biết có bao nhiêu người nay còn muốn nhắc lại câu chuyện Tổng công kích cách mạng của cộng sản tại Huế, còn đoái hoài tới những kẻ xấu số đã mất đi mạng sống của mình một cách thảm thương. Đành rằng trước những tội ác đảo lộn luân thường đạo lý của phát xít quốc xã và cộng sản toàn trị, thế kỷ XX đã bị tố cáo trước công luận thế giới là man rợ xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Nhưng công luận đã không đáp ứng được nhu cầu công lý. Có gì để đền bồi cho thân nhân h àng ngàn gười xấu số đã chết tức tưởi dưới bàn tay khát máu của cộng sản tại Huế trong dịp Tết Mậu Thân? Và những kẻ sát nhân đã phải trả lời ra sao về tội ác của chúng? Có thể đành tâm im lặng nhìn cuộc sống thị phi lẫn lộn kéo dài vô tận được không?
Một người Mỹ từng có nhiều công trình nghiên cứu thâm sâu về những người Cộng sản Việt Nam, ông Douglas Pike, khi lập một hồ sơ về biến cố Tết Mậu Thân đã viết rằng: “Ngoài tiếng thở dài cay đắng, người dân sẽ nói cho quí vị hay những gì về Huế mà thế giới đã không biết tới, và nếu có biết, họ cũng chẳng quan tâm đến những gì ở Huế sau 27 ngày gọi là “giải phóng Thừa Thiên (…). Những gì xảy ra ở Huế làm cho những ai còn là người văn minh trên địa cầu nầy phải dành nhiều phút giây tĩnh tâm để tư duy về những điều đã được khắc ghi, cùng với những tai họa khủng khiếp khác về những hành động dã man của người đối với người sẽ không bao giờ quên được và trở thành một dấu ấn sâu sắc trong dòng lịch sử nhân loại” (lời dịch của Tuệ Chương).
Bốn mươi năm sau. Chúng ta, những người không Cộng sản còn nhớ được những gì và suy nghĩ gì về cuộc giết người hàng loạt này?
Bộ mặt ghê rợn của ý thức hệ
Một người dân Huế nhớ lại: “Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể. Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được 2,326 sọ người. Sau Tết, chúng tôi lập Hội Gia đình Nạn nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4,000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6,000 người. Có nhà báo ước tính 5,000. Chúng tôi cho con số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu”.
Nhiều đợt kiếm xác làm liên tưởng tơi cảnh hành hình trong ngục của Diêm Vương. Các nạn nhân tay bị trói bằng dây thép gai buộc ra sau lưng, miệng nhét giẻ, thân xác không còn nguyên vẹn nhưng lại không có dấu vết bị thương. Chắc hẳn những người này đã bị chôn sống . Nơi tìm thấy nhiều xác nạn nhân nhất là ở những đồi cát của ba làng Vinh Lưu, Lệ Xá đông, và Xuân Ổ; đây là vùng đồi cát liên tiếp nhau, nhiều đụn cỏ, ở gần biển Đông. Cách xa cách vùng đầm nước mặn, đây là nơi thuận tiện để chôn tập thể. Đã có hơn 800 người được phát giác ở khu này. Các nạn nhân bị trói thành từng nhóm 10 hoặc 12 người, sắp hàng bên cạnh những cái hố do dân địa phương đào. Sau khi bị bắn bằng súng máy nhờ có vỏ đạn bên cạnh hố chôn nên đoán là do Nga sản xuất. Một địa điểm khác nữa là ở quận Nam Hòa, chỗ gọi là khe Đá Mài, hay là nơi người dân Phú Cam bị giết, tìm thấy hôm 19 tháng 9 năm 1969. Cán binh Cộng Sản đào ngũ khai với viên chức tình báo thuộc đoàn Không Kỵ 101 của Hoa Kỳ rằng họ đã chứng kiến việc giết hàng trăm người ở khe Đá Mài, cách Huế 10 dặm về phía nam vào tháng Hai 1968. Khu nầy hoang vu, không có dân cư, khó đến được, một toán tìm kiếm đã tới được khe Đá Mài báo cáo rằng trong dòng suối có rất nhiều đống xương người chồng chất lên nhau.
Nhờ những tin tức gom góp được, người ta tạm phỏng đoán những gì xảy ra ở khe Đá Mài. Tại khu Phú Cam, nơi có khoảng 40 ngàn dân, những người theo đạo Thiên Chúa chiếm 3/4 dân số thành phố. Hôm mồng 5 Tết dân khu này chạy vào nhà thờ tránh súng đạn như ở Việt Nam người dân thường làm. Thực ra, nhiều người trong số đó không phải là người có đạo Thiên Chúa.
Cán bộ Cộng sản vào nhà thờ bắt đi khoảng 400 người, một số theo danh sách có sẵn còn một số theo nhân dạng mà bắt (giàu có, sang trọng, trung niênv.v…). Cộng Sản cho biết họ phải vào vùng giải phóng để học tập chính trị trong vòng ba ngày, sau đó, sẽ được tha về. Họ bị đưa đi 9 cây số tới một ngôi chùa nơi Cộng sản đặt bộ Chỉ huy. Hai chục người được gọi ra trước cái gọi là “tòa án cách mạng”, bị tố cáo là có tội, bị hành quyết và chôn ngay trong sân chùa. Những người còn lại được đưa qua sông và giao cho đơn vị Cộng sản địa phương. Bảy ngày sau đó, không rõ số lượng bao nhiêu, cả người bắt và người bị bắt đã di chuyển về một vùng quê. Và để không cho ai thấy, người bị bắt bị dẫn đến những vùng núi non lởm chởm nhất miền Trung Việt Nam, tới khe Đá Mài. Tại đây họ bị bắn hay bị đập đầu, xác bị đạp xuống lòng khe.
Ông Nguyễn Phúc Liên Thành, nguyên Phó Trưởng ty Cảnh sát Đặc biệt tại Thừa Thiên nhớ lại: “Sau khi lập chính quyền thì Việt cộng bắt đầu cuộc thảm sát. Đầu tiên họ kêu gọi quân nhân cán chính trong thành phố Huế ra trình diện. Sau khi trình diện thì được cấp giấy, có quyền đi lại, coi như giấy thông hành. Những người này về nói lại với những người khác, người kế tiếp ra trình diện. Đến lần thứ ba thì họ yêu cầu tất cả những ai đã trình diện lần một và lần hai ra trình diện lại. Đây là lần quyết định, và cuộc thảm sát đã diễn ra!”
Ông Philip W. Manhard, cố vấn Mỹ tại Huế bị bắt làm tù binh và bị giam giữ tại một trại tù binh ở ngòi Bắc cho đến năm 1973, đã xác nhận rằng khi phải rút khỏi thành phố Huế, bộ đội cộng sản đã hạ sát tất cả những ai không chịu đi theo, cũng như những người quá già hoặc quá ít tuổi gây trở ngại cho cuộc rút quân này. [*]
Phải được thúc đẩy bởi những động cơ tâm lý như thế nào mới có thể giết người một cách vô cảm và phi nhân tính, theo đuổi ý đồ diệt chủng như vậy? Tìm cách giải nghĩa cuộc tàn sát Tết Mậu Thân dưới góc độ nhìn vấn đề như thế thì chỉ có một câu trả lời độc nhất, đó là sự thể hiện cụ thể nhất của hệ thống giáo điều ý thức hệ Cộng sản với căm hờn giai cấp, với vai trò lịch sử tự phong của lớp người tự nhận là vô sản, với chủ trương đảng trị độc tôn, toàn trị phi nhân quyền v.v… cho phép người cộng sản – như, đúng ra hơn cả Thượng Đế – có đủ mọi thứ quyền trên cõi đời này, kể cả quyền sinh quyền sát. Bởi vậy cuộc tàn sát đầu Xuân Mậu Thân vẫn còn là một vấn đề mà các thế hệ nói tiếp cần phải phân tích để thanh toán.
Khoảng cách bốn mươi năm đã mang lại nhiều thay đổi từ tư tưởng đến thực tế đất nước, góp phẩn làm hiển lộ sự thật. Nếu vào thời điểm năm 1968, những người Cộng sản có được sự thản nhiên lạnh lùng để hạ sát một cách man rợ hàng ngàn đồng bào là tại vì lương tâm con người trong họ đã bị tham vọng quyền lực, quyền lợi che lấp. Phải bằng mọi giá loại trừ bất cứ trở ngại nào trên buớc đường họ cướp quyền để cầm quyền. Nhưng sau hơn 30 năm chiếm được trọn quyền trong cả nước, những người cộng sản qua suy nghiệm bản thân chắc đã không thể không nhận rõ được thực chất vô đạo, dối trá, man rợ, lạc hậu của ý thức hệ của mình. Họ biết rằng không thể mượn những ánh hào quang giả trá của chủ nghĩa để biện minh cho hành động giết người của họ. Nên họ đã ra sức che dấu tội phạm bằng những luận điệu, hình thức lố bịch tự ca ngợi chiến thắng, tạo nên những căng thẳng tâm lý, khơi sâu thêm hận thù trong xã hội. Nhưng họ che dấu bằng thái độ phi luân lý, bất cần tốt xấu, sai đúng, khinh miệt mạng sống con người. Mặc dầu trước công luận thái độ này có chỗ dựa là chính quyền nhưng nó không thể làm nền tảng đạo lý cho môt nước Việt Nam dân chủ lương thiện được. Hồ sơ cuộc giết người hàng loạt Tết Mậu Thân vì vậy chưa thể xếp lại mà còn phải đưa ra trước công lý..
Đường thẳng và những ngõ ngách để đi tìm công lý
Chữ công lý có hai nghĩa. Hiểu một cách thông thường thì công lý là công bằng, hợp với lẽ phải, trái phải, công tội phân minh v.v… Công lý cho người dân cảm giác công chính, thỏa đáng, chính đáng. Nhưng điều này không phải tự nhiên đã có sẵn trong xã hội, cần phải thực hiện mới có và công lý chỉ thực hiện thông qua nhà cầm quyền. Chính quyền phải có những định chế để đáp ứng nhu cầu công lý của dân. Do đó, chữ công lý còn có nhiều nghĩa chuyên môn mang tính chất triết học, pháp lý. Công lý về mặt chuyên môn, và hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, là một phạm trù luân lý-chính trị-luật học, biểu hiện một trạng thái quan hệ trong đó con người được đối xử công bình, nghĩa là bình đẳng với nhau trước pháp luật, trong sự tương kính, phù hợp với hệ thống giá trị được coi như tiêu chuẩn của cuộc sống chung. Công lý vì thế là đạo đức hàng đầu của chính quyền, là lẽ chính thống của một một chế độ, là diện mạo của văn minh.
Cho đến cuối thế kỷ XX, trên đại thể, công lý là giá trị quốc gia. Nước nào có công lý của nước ấy, tuy rằng cũng phải qui chiếu vào cái hình bóng giá trị được gọi là công lý chung của nhân loại. Nhưng từ thập niên 1990 công lý chung này bắt đầu quá trình đột xuất dưới hình thức bào thai. Và đến năm 1998 thì nó chính thức ra đời ở thành phố Rome của nước Ý, dưới danh xưng Tòa Án Hình Sự Quốc Tế, có thể nói một tòa án hình sự đầu tiên của cả loài người . Như vậy là từ nay sẽ có hai nền công lý, đó là công lý quốc nội và công lý quốc tế. Đúng hơn, nên nói hai cách thực hiện công lý với những khác biệt từ hình thức đến nội dung. Việc nhận diện cho rõ những khác biệt này không đơn giản vì nó đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên môn. Nhưng điều mà mọi người nên tránh là đừng đồng hóa một cách máy móc hai thứ công lý này.
Câu hỏi thực tế được đặt ra là trong khuôn khổ hai nền công lý ấy, phải làm sao để xét xử vụ giết người hàng loạt Tết Mậu Thân?
Có hai con đường thẳng và một số ngõ ngách để đưa vụ tàn sát Tết Mậu Thân ra trước công lý. Hãy bàn về những con đường thẳng để chọn hoặc con đường quốc tế hoặc con đường quốc nội. Về mặt công lý quốc tế thì vụ tàn sát này thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (TAHSQT). Thật vậy, những hành vi bắt người giết người và ý chí phạm tội của những thủ phạm cộng sản rõ ràng là những yếu tố cấu thành các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử (thuật ngữ luật học gọi là “thẩm quyền đối vật”, compétence ratione materiae) của cơ quan tài phán này, chiếu điều 6, 7 và 8 của Quy chế Rome 1998 thiết lập TAHSQT. Với những đặc tính này, vụ tàn sát Tết Mậu Thân là những tội phạm quốc tế đích danh như diệt chủng, chống nhân loại và tội phạm chiến tranh. Nhưng điều trớ trêu là các tụng nhân Việt Nam lại không có tố quyền để khiếu kiện trước TAHSQT. Vì chiếu điều 11 của Qui chế kể trên, TAHSQT chi thụ lý để xử những viêc xảy ra sau khi Qui chế này bắt đầu có hiệu lực, nghĩa là năm 2001. Hơn nữa trong mọi trường hợp, TAHSQT cũng không có hiệu lực đối với nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa vì nước này không ký tên vào Quy chế Rome 1998 nên không bị ràng buộc vào quy chế Rome. Như vậy, con đường thẳng quốc tế đã bị tắc nghẽn, các tụng nhân Việt Nam chỉ còn trông vào ba ngõ ngách là các nước Tây Ban Nha, Bỉ và Hoa Kỳ là ba nước tự cho mình có thẩm quyền trên tòan cầu xét xử một số tội hình sự bất cứ ai phạm ở nước ngoài [**]. Với điều kiện là thủ phạm phải có mặt trên ba nước này và nếu không có mặt thì sẽ được dẫn độ. Rốt cuộc cũng vẫn là những bước phiêu lưu mà kếât quả cũng không hơn gì trường hợp không có tố quyền. Vì thủ phạm không dại gì tự mang thân vào vòng tù tội và yêu cầu dẫn độ cũng chẳng bao giờ được chấp thuận [**].
Còn đường thẳng công lý quốc nội thi sao? Theo lẽ, những tụng nhân Việt Nam có thể vô đơn nhờ tòa án quôc nội xét xử vụ tàn sát Tết Mậu Thân. Như tòa án ở Phnom Penh đang xử những người Khơ Me Đỏ về tội diệt chủng. Nhưng người dân Việt Nam cũng sẽ đành phải bó tay thôi. Đương nhiên phải vậy bởì lẽ Đảng cộng sản, Đảng đã gây ra tội ác diệt chủng Tết Mậu Thân, vẫn còn đang cầm quyền khác với trường hợp Khơ Me Đỏ đã mất quyền. Thân nhân các nạn nhân vụ tàn sát Tết Mậu Thân chắc chắn là không hy vọng gì thấy được tòa án của chế độ hiện hữu chấp đơn khiếu kiện để tự mình xét xử mình và trừng phạt mình. Vậy chỉ còn ngõ ngách là tụ họp để khiếu kiện ngoài đường phố, đòi hỏi nhà cầm quyền mở cuộc điều tra để truy cứu các thủ phạm trong cuộc diêt chủng Tết Mậu Thân, trừ phi chính quyền tại chức bị mất chức và chính quyền thay thế sẽ không theo đưổi chính sách cai trị diệt chủng cũ.
Nói tóm lại, trước mắt, đặt vấn đề tìm công lý cho những nạn nhân vụ giết người hàng loạt Tết Mậu Thân là đặt vấn đề thay đổi ở tận gốc những điều kiện thực hiện công lý để cho nưóc Việt Nam có thể thực sự hội nhập với nhân loại văn minh. Để tạo ra một không gian pháp lý mới trong đó pháp luật sẽ thay thế cho bạo lực thay vì chỉ giữ vai trò công cụ cho bạo lực.
Luật sư Trần Thanh Hiệp, 20080303
[*] Phỏng theo và tóm lược các tài liệu đã được phổ biến trên mạng lưới internet.
[**] Tây Ban Nha đã yêu cầu dẫn độ Pinochet, cụu Tổng Thống Chili để xét xử về cuộc tàn sát tập thể tại nước này. Anh quốc tuy đã bắt giữ tướng Pinochet nhưng đã từ chối không chấp đơn xin dẫn độ của Tây Ban Nha.
GIỖ ĐẦU NĂM
Tết năm “Mậu” về, thời gian phi mã,
Bốn mươi năm chẵn, nghiệt ngã đầu xuân.
Huế nhuộm đỏ, hơn ba tuần, tang tóc,
Ngàn mảnh đời, bỗng chốc, thành hư vô.
Xương khô chất đống, mồ chôn tập thể,
Tội ác tày trời, kể xiết được sao!
Mong tang tóc, thương đau rời đất Việt,
Giỗ đầu năm, vái liệt vị anh linh.
Thế Hoằng, 20080430
Vâng, bác Hoangkybactien rất đúng. Mỗi lần mở điện báo này ra, tôi được cung kính tưởng niệm Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm rồi mới đọc những bài khác.
Đấy là trở thành thói quen gần như không thể thiếu được của tôi.
Rất tiếc mãi đến năm 1966 tôi mới đủ 21 tuổi để thi hành bổn phận quân dịch. Nên lòng thấy tiếc nuối vì không được làm lính Cụ Ngô như anh cả và anh hai tôi đúng nghĩa (đen).
Trước thềm năm mới tôi xin cúi đếu tưởng niệm đến các vị Chiến Sĩ Vô hoặc hữu danh đã vị quốc vong thân.
Kính thưa chiến hữu Hoàng Kỳ Bắc Tiến.
Trích : ” Bây giờ dùng tên Quảng Đức cho tỉnh mới thành lập giữa Lâm Đồng và Ban Mê Thuột, Quảng Tín chia bớt đất của Quảng Nam. ”
Xin thưa với ông tỉnh Quảng Đức nằm giữa tỉnh Phước Long và Bản Mê Thuột (nay vẹm nó đặt là tỉnh Daknong, thủ phủ là Gia Nghĩa – nay cũng vậy). Còn Dalat là thủ phủ của tỉnh TUYÊN ĐỨC nằm giữa tỉnh Lâm Đồng (thị xã Bảo Lộc tức Blao) và Bản Mê Thuột.
Chúng mình già rồi nên nhầm lẫn cũng là lẽ thường, nay xin vì chiến hữu tôi được đính chính.
Thân mến.
ANH HÙNG
Chào kính các anh, người trai nước Việt,
Khoác chiến bào, oanh liệt giữ non sông.
Kontum, Quảng Trị, Bình Long, năm nọ,
Diệt quân thù muốn nhuộm đỏ phương Nam.
Hoàng Sa biển lửa, không làm nhụt chí,
Bảo vệ biên thùy, vị quốc vong thân.
Khí hùng bất tử, muôn dân thương khóc,
Việt sử ngàn đời, Tổ Quốc ghi ơn!
Cảm tác sau khi xem video Lá Thư Từ Chiến Trường
Thế Hoằng, 20080522
Doc bai tho cua anh,xin phep duoc Post tren trang nha cua chung toi,vi cung chung mot ly tuong Chong Cong San va Ngoai Xam.
Xin Da Ta
Huong ung
THANH KINH TUONG NIEM VA TRI AN CAC ANH HUNG DAN TOC NUOC NAM-VIET NAM
Blog đẹp quá . Khâm phục khâm phục .
Kính
vdn