Filed under: AUDIO - VIDEO - HÌNH ẢNH, Video Nhạc và Tài Liệu | 3 Comments »
Nhạc sĩ Trúc Hồ và luật sư Anh Tuấn nói về việc đến Tòa Bạch Ốc thảo luận về Human Right For Viet Nam vào ngày 5 tháng 3, 2012.
We the People… (Giao Chỉ, San Jose)
We the People…..
Chúng tôi là người dân Hiệp Chủng quốc..
::: Giao Chỉ, San Jose :::
Dân quyền tại Mỹ.
Hai trăm ba mươi sáu năm trước, ông Thomas Jefferson đã viết bản tuyên ngôn độc lập và góp phần vào việc soạn bản hiến pháp Hoa Kỳ. Nhà chính trị gia lỗi lạc với tư tưởng cấp tiến và văn tài xuất sắc đã từng viết nên những hàng chữ lịch sử : “Con người sinh ra bình đẳng.” “Con người có quyền mưu cầu hạnh phúc” và đặc biệt với 3 chữ mở đầu của hiến pháp : “We the People …” chúng tôi là người dân Hiệp Chúng Quốc…. Read more »
Filed under: SINH-HOẠT CỘNG-ĐỒNG VN TẠI HẢI-NGOẠI, TIN VIỆT NAM - Quốc-nội, TIN VIỆT-NAM - Hải Ngoại | 4 Comments »
Xuất hiện bất ngờ cuốn DVD đầu tiên về TT Ngô Đình Diệm
Xuất hiện bất ngờ cuốn DVD đầu tiên
về TT Ngô Đình Diệm
Minh Võ
Khoảng cuối tháng 9 năm 2011 tôi nhận được cú điện thoại viễn liên. Ở đầu giây một giọng nói lạ hỏi: -Ông có phải là ông Minh Võ không? -Vâng. Ông cần gì ạ.- Thưa anh, xin phép anh được xưng hô như thế. Em có việc rất cần phải nhờ anh giúp. Em đã làm xong cuốn băng DVD về cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm theo cuốn sách của anh: Ngô Đình Diệm và Chính nghĩa dân tộc. Em muốn đón anh tới nhà em mấy ngày để cùng với anh xem lại cuốn băng xem nó có đúng như nội dung cuốn sách không. Read more »
Filed under: Minh Võ, Ngô Đình Diệm và Chính -nghĩa Dân-tộc, TÀI-LIỆU | 10 Comments »
Về Nhạc Sĩ Việt Khang: Đài SBVN thực hiện
Về Nhạc Sĩ Việt Khang: Đài SBVN thực hiện
19-1-2012 Kim Nhung phỏng vấn Nhạc sĩ Trúc Hồ
Nhạc sĩ Việt Khang bị bắt
Tin từ một người bạn của nhạc sĩ Việt Khang cho hay, công an Mỹ Tho đã bắt đi nhạc sĩ Việt Khang vào trước lễ Noel vừa rồi. Việt Khang có tên thật là Võ Minh Trí là cộng tác viên trẻ thuộc Đoàn Nghệ Thuật Tổng Hợp Tiền Giang.
Lý do Việt Khang bị bắt giữ có thể liên quan tới một ca khúc do chính anh sáng tác và biểu diễn. Ca khúc có tên “Việt Nam Tôi Đâu”. Bài hát ca ngợi tình yêu nước, chống Trung Quốc và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Cùng với lời ca là các hình ảnh biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội, Sài Gòn, video do anh sáng tác được phát tán rộng rãi trên mạng.
Bài hát có đoạn “Hoàng Trường Sa đã bao người dân vô tội chết ngậm ngùi vì tay súng giặc Tầu…”, tiếp theo đó là lời kêu gọi đứng lên “chống giặc tầu và những kẻ bán nước”…

Những hình ảnh biểu tình xuất hiện trong video clip của Việt Khang
Liên quan tới những sáng tác “nhạy cảm” về chủ quyền biển đảo, tháng trước đây, bộ phim “Hoàng Sa- Nỗi đau mất mát” do ông André Menras-Hồ Cương Quyết hợp tác với Đài Truyền hình TPHCM thực hiện năm 2011 đã bị cấm chiếu. Ngay buổi công chiếu đầu tiên ở một quán cafe vào đêm 29 tháng 11 thuộc khu du lịch Văn Thánh, công an quận Bình Thạnh đã thô bạo giải tán những người tới xem, đồng thời ngắt điện của tiệm cafe.
Mặc dù trong năm rồi, nhà nước đã có những động thái nhất định chính thức thừa nhận chủ quyền đối với Hoàng Sa cũng như những tranh chấp với Trung Quốc trên biển Đông. Từ chỗ đề cập úp mở, báo chí Việt Nam đã đề cập trực diện tới các xung đột trên biển Đông. Nhiều quan chức đứng đầu nhà nước như các ông Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng đã chính thức lên tiếng về chủ quyền biển đảo, thay vì những thông cáo nhàm chán do các thế hệ người phát ngôn bộ Ngoại Giao lặp đi lặp lại nhiều năm nay.
Song, tình yêu nước vẫn bị kiểm duyệt khắt khe. Những hành động “yêu nước tự phát”, ở các mức độ khác nhau, đều bị trấn áp. Những người mặc áo, đội nón NO- U (nói không với đường lưỡi bò) vẫn bị làm khó, người biểu tình bị giải tán, bắt bớ tùy tiện.
© Đàn Chim Việt
Filed under: SINH-HOẠT CỘNG-ĐỒNG VN TẠI HẢI-NGOẠI, TIN VIỆT-NAM - Hải Ngoại | 3 Comments »
Video: Các ca sĩ của ASIA hát “Anh là ai?” (tác giả: Việt Khang)
Xin chuyển bài “Anh là ai?” do Trúc Hồ cùng bốn ca sĩ trẻ của ASIA luân phiên hát:Trúc Hồ cùng Mai Thanh Sơn, Quốc Khanh, Đoàn Phi, & Đan Nguyên.
Trong bài họ hát chung, nhiều đoạn cũng rất cảm động.
Việc để nhiều người hát rất có ý nghĩa (nhiều người Việt hát theo “tiếng hát VK”). Phổ biến lời ca tiếng Anh để giới trẻ VN và người ngoại quốc có thể hiểu là ý kiến rất hay.
Có một đoạn lấy bối cảnh trước cổng chùa Điều Ngự. Cũng rất có ý nghĩa: trước đã có Thái Hà, nay có thêm Điều Ngự để — cùng với hồn thiêng sông núi – làm điểm tựa tinh thần cho giới trẻ.
Tóm lại, theo thiển ý, Việt Khang và Trúc Hồ đều đáng được “tuyên dương” .
Thân kính,
trần huy bích
| WHO ARE YOU? | ANH LÀ AI ? |
| Tác giả: Việt Khang | |
| May I ask, who are you? Why arrest me? What have I done wrong? May I ask, who are you? Why beat me without the slightest mercy?May I ask, who are you? To keep me from protesting For love of this country, whose people have endured far too much! May I ask, where are you? Where is your nationalism? I cannot sit still I cannot sit still |
Xin hỏi anh là ai? Sao bắt tôi tôi làm điều gì sai? Xin hỏi anh là ai? Sao đánh tôi chẳng một chút nương tay?Xin hỏi anh là ai? Không cho tôi xuống đường để tỏ bày Tình yêu quê hương này, dân tộc này đã quá nhiều đắng cay! Xin hỏi anh ở đâu? Dân tộc anh ở đâu? Tôi không thể ngồi yên Tôi không thể ngồi yên |
Filed under: AUDIO - VIDEO - HÌNH ẢNH, Video Nhạc và Tài Liệu | 6 Comments »
Đám Cưới Nhà Binh Hoa Dù Nở Tại SàiGòn
Lễ Thành Hôn Vân Sương & Khánh Vân. Ngày 9 tháng 2 năm 2011.
Quan-viên hai họ đều là những Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hoà.
Filed under: THƯƠNG-PHẾ-BINH VNCH, Video Nhạc và Tài Liệu | 17 Comments »
Duyên Anh: NHỮNG ĐỨA TRẺ THÁI BÌNH (Phần VI: 103…110)
Filed under: Duyên Anh, TRUYỆN DÀI - TIỂU THUYẾT | Leave a Comment »
Duyên Anh: NHỮNG ĐỨA TRẺ THÁI BÌNH (Phần V: 96-102)
Filed under: Duyên Anh, TRUYỆN DÀI - TIỂU THUYẾT | Leave a Comment »
Duyên Anh: TRẠI TẬP TRUNG (Em nhỏ, Hầm biệt giam và Giáng Sinh)
Filed under: Duyên Anh, HỒI KÝ - BÚT KÝ | 1 Comment »
Tiểu Tử : Cái loa

Nhà ông Năm ở vùng Cây Quéo, trong một đường đất nhỏ quanh co không ăn thông qua con đường nào khác. Trong cái ngõ cụt đó chỉ có sáu bảy cái nhà cất theo kiểu xưa, kèo cột gỗ, ngói âm dương. Một vài nhà cũng đã được “tân trang” với mặt tiền đúc bê-tông cẩn gạch màu… Điểm đặc biệt là nhà nào cũng có đất chung quanh đầy cây kiểng và cây ăn trái. Cho nên, tuy ở sát nách thành phố mà thấy như ở đâu trong xa miệt vườn vậy ! Và thật là yên tịnh. Read more »
Filed under: Tiểu Tử, TRUYỆN NGẮN | Leave a Comment »
Liên Hội Người Việt Canada phát động chiến dịch gửi Thỉnh Nguyện Thư đến Chính phủ Canada
Kính thưa quý vị,
Xúc động và cảm kích trước sự dấn thân không sợ tù đày của tuổi trẻ và nhân sĩ trong nước mà điển hình là Nhạc sĩ tài ba Việt Khang, Nhạc sĩ Trúc Hồ cùng các anh chị em ca nghệ sĩ Trung tâm Asia, các anh chị em Đài Truyền hình SBTN, và Tổ chức Boat People SOS mà người đứng đầu là Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng đã kêu gọi chiến dịch vận động 25,000 người ký tên ủng hộ gửi đến Tòa Bạch Ốc. Read more »
Filed under: SINH-HOẠT CỘNG-ĐỒNG VN TẠI HẢI-NGOẠI, TIN VIỆT-NAM - Hải Ngoại | 2 Comments »
Tiểu Tử: THẰNG DÂN
Trong chuyện phiếm này, tôi gọi ” thời chú Sam” để chỉ miền Nam trước tháng 4 năm 1975 và ” thời bác Hồ ” để chỉ miền Nam dài dài sau đó. Cho thấy miền Nam trước có chú, rồi sau có bác thay thế nhau chăm sóc tận tình. Thật là…đại phước !
Filed under: Tiểu Tử, VUI CƯỜI - PHIẾM LUẬN | 3 Comments »
Truyện đọc: TÔI ĐI HỌC TẬP
Filed under: AUDIO - VIDEO - HÌNH ẢNH, Truyện Đọc - Phỏng Vấn | Leave a Comment »
Ông Già Việt Nam
Filed under: VUI CƯỜI - PHIẾM LUẬN | Leave a Comment »
HÒA-GIẢI HÒA-HỢP DÂN-TỘC
Lời nói đầu. Thưa quý chiến hữu, Đại Hội tháng 12 năm 2008 tại Adelaide thảo luận về vần đề Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc. Cuộc thảo luận khá sôi nổi nhưng chưa nêu lên được sự lợi hại cụ thể. Đây là một đề tài rất quan trọng hiện đang trở nên tranh luận trên mọi diễn đàn, khiến tôi trăn trở nên tìm đọc các sách báo, tài liệu và cả trên internet, nhìn lại trang sử từ năm 1945 đến nay để tìm hiểu và thấy rằng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc quả là quan trọng và vô cùng nguy hiểm. Chính nó, Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc là mấu chốt đưa đến mất Miền Nam Việt Nam, làm cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, khiến hàng triệu người phải bỏ nước ra đi sống đời lưu vong. Hòa Giải Hòa Hợp lại đang theo đuổi Người Việt Hải Ngoại để tròng vào cổ ách nô lệ cho chế độ cộng sản. Xin quý chiến hữu theo dõi bài viết ngắn sau đây để thấy tầm mức cực kỳ nguy hiểm của giải pháp Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc như thế nào.
Chí Linh
Hiện đang có những tổ chức hay cá nhân cổ võ cho giải pháp Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc, kêu gọi người Việt hải ngoại, sau 30 năm chấm dứt chiến tranh, hãy quên đi quá khứ, xóa bỏ hận thù mà bắt tay hòa giải hòa hơp với quốc nội để xây dựng đất nước. Tổ quốc đang bị Bắc phương hăm dọa xâm lăng. Đất nước lâm nguy, thất phu hữu trách. Người Việt dù trong hay ngoài nước phải đồng lòng gánh vác trách nhiệm trước lịch sử.
Việc phương Bắc có xâm lăng hay không cũng như cộng sản Việt nam đã phải cúi đầu nhường đất dâng biển là một đề tài lớn, cần thảo luận. Ở đây chỉ sẽ chỉ nói đến Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc với những diễn biến và hệ lụy của nó từ khi cộng sản cướp chính quyền dưới cái tên Việt Minh đến nay xem nó đã tác động đến dân tộc ta như thế nào. Tạm thời chia ra làm 3 giai đoạn.
Giai đoạn 1 (từ 1945 – 1946)
Filed under: BÌNH LUẬN - QUAN ĐIỂM | Leave a Comment »
Minh Võ: TÂM SỰ NƯỚC NON 2 (Chống Cộng hay Chống Độc Tài?)
Filed under: TÀI-LIỆU, Tâm Sự Nước Non 2 | 2 Comments »
Tòa Bạch Ốc hồi đáp thỉnh nguyện thư về tình hình nhân quyền Việt Nam
Filed under: TIN VIỆT-NAM - Hải Ngoại | 2 Comments »
Thư Số 4 Gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
Filed under: BÌNH LUẬN - QUAN ĐIỂM | Leave a Comment »
Quê Hương Việt Nam Không Còn Là Chùm Khế Ngọt
Filed under: BÌNH LUẬN - QUAN ĐIỂM | Leave a Comment »
Minh Võ: TÂM SỰ NƯỚC NON 2 (Tại Sao Thua?)
Filed under: Minh Võ, Tâm Sự Nước Non 2 | Leave a Comment »
Minh Võ: TÂM SỰ NƯỚC NON 2 ( Hồ Chí Minh – Ngô Đình Diệm và cuộc chiến Quốc-Cộng)

Hiện thời dư luận của đồng bào trong và ngoài nước đang chú tâm vào những vấn đề nóng bỏng sau đây:
Filed under: Minh Võ, TÀI-LIỆU, Tâm Sự Nước Non 2 | 1 Comment »
Duyên Anh: TRẠI TẬP TRUNG (Và Một Kiểu Cachot)
Filed under: Duyên Anh, HỒI KÝ - BÚT KÝ | 7 Comments »
Thơ: Phải Lấy Lại Những Gì Ta Đã Mất (Ngô Minh Hằng)
PHẢI LẤY LẠI NHỮNG GÌ TA ĐÃ MẤT
(Thân mến gởi Tuổi Trẻ Việt Nam quốc nội và quốc ngoại)
Dòng lệ đắng vẫn cay tràn hố mắt
Bao triệu người dân Việt vẫn đau thương
Ngày như đêm, tiếng gông xiềng, xích sắt
Vẫn vang rền trên khắp nẻo quê hương
Đâu sông núi của giống nòi hào kiệt
Đâu một thời phá Tống lại bình Chiêm
Và đâu thuở người dân lành nước Việt
Sống bên nhau không oan khổ ưu phiền ?!
Cảnh đời ấy đã xa rồi. Đã mất !
Kể từ ngày cát bụi đỏ quê hương
Bốn nghìn năm, máu anh hùng bất khuất
Vẫn bừng sôi trong tim óc kiên cường…
Quê ta đấy, đau thương ngàn vết chém
Anh em ơi! Tuổi trẻ Việt Nam ơi !
Hãy đứng lên, lấy chí hùng, gan thép
Lấy tinh hoa mà dựng nước, xây đời
Phải lấy lại những gì ta đã mất
Cho quê ta, cho nòi giống dân ta
Hỡi tuổi trẻ hãy về đây góp mặt
Góp bàn tay cùng xoay chuyển sơn hà…
Ngô Minh Hằng
Filed under: Ngô Minh Hằng, THƠ ĐẤU TRANH | 1 Comment »
Duyên Anh: NHỮNG ĐỨA TRẺ THÁI BÌNH (Phần V- 89…95)
Filed under: Duyên Anh, TRUYỆN DÀI - TIỂU THUYẾT | Leave a Comment »
Duyên Anh: NHỮNG ĐỨA TRẺ THÁI BÌNH (Phần V- 83…88)
Filed under: Duyên Anh, TRUYỆN DÀI - TIỂU THUYẾT | Tagged: Duyên Anh, nhung dua tre thai binh, thái bình | Leave a Comment »
Duyên Anh: TRẠI TẬP TRUNG (Một kiểu cachot)
Filed under: Duyên Anh, HỒI KÝ - BÚT KÝ | Tagged: Duyên Anh, trại tập trung | Leave a Comment »
Duyên Anh: TRẠI TẬP TRUNG (Cachot Đề-lao Gia-định)
Filed under: Duyên Anh, HỒI KÝ - BÚT KÝ | Leave a Comment »
Giới thiệu sách: TRÊN VÒM TRỜI LỬA ĐẠN (Kq. Vĩnh Hiếu)
Giới thiệu sách
Bút Ký Chiến Trường: “Trên Vòm Trời Lửa Đạn”



| Tập sách gồm những bài viết về những phi vụ đẫm máu nhất trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam lên đến cao độ, cũng như những chuyện vui buồn bên lề của một Hoa Tiêu Trực Thăng Võ Trang thuộc Phi Đoàn 215 Thần Tượng, Không Đoàn 62 Chiến Thuật, Sư Đoàn II. Sách dày trên bốn trăm trang được trình bày mỹ thuật với nhiều hình ảnh màu và đen trắng. |

LỜI BẠT
của
Đặng Chí Bình
(tác giả Thiên hồi ký Thép Đen)
Kính thưa những người đọc,
Hầu hết chúng ta đọc mà đọc nhiều sách báo ngoại quốc, cũng như của đất nước Việt Nam chúng ta kính yêu.
Có những tác phẩm lâu bền với thời gian, ngược lại có những tác phẩm sôi nổi lúc ban đầu,..rồi dần dần đi vào quên lãng theo năm tháng…Vì sao như thế?
Hàng chục yếu tố phải đề cập, nhưng một yếu tố không thể thiếu, là lòng chân thành và tôn trọng sự thật của tác giả. Muốn viết sự thật, phải là người có bản lĩnh, gắn hữu cơ với lòng tự trọng và sự tôn trọng người khác. Ðừng bao giờ nghĩ: “ Mình không viết sự thật mà người khác không thể biết”. Thưa qúy vị, dù là một điệp viên, tôi vẫn tuân theo lời giáo huấn của Tổ tiên, cha ông của dân tộc Việt: Thật thà là cha quỷ quái.
Là một tình báo đi vào lòng địch, nhưng vì kém khả năng, nên đã rơi vào tay kẻ thù, phải vào nằm trong Hỏa Lò Hà Nội từ đầu 1962.
Do những hoán đổi giữa diện và điểm có kỹ thuật và gặp thời… VC đã chiếm được địa điểm chiến lược khởi đầu, là Ban Mê Thuật ngày 13/ 3/ 1975. Lòng tôi vặn vò, quằn quại trong ngục tối Hỏa Lò, với bao nhiêu tin tức hỗn tạp xuyên tạc, bóp méo của đài, báo của CS,.. tôi không thể biết rõ nguyên nhân. Rồi mãi tới đầu 1984, tôi vượt biển đến Mỹ. Ngoài những thời gian mưu sinh bắt buộc, tôi xục xạo, tìm tòi qua những chứng liệu người và tài liệu, để cỡi ra những điều tôi ấm ức ở trong tù.
Qua Google, tôi lang thang vào những web, blog như Cánh Thép, Bảo Vệ Cờ Vàng v.v… Trong cái rừng, núi bao la tin tức của thế giới tự do… Trải qua kinh nghiệm của nghiệp vụ, tôi đã đánh hơi thấy một chàng phi công trẻ: Vincent Vĩnh Hiếu, cũng ngổ ngáo ngang ngược và đặc biệt có những yếu tố, tôi đã nêu trên. Tôi đã lao vào những bài viết, hồi ký ngắn dài của Vĩnh Hiếu, để thẩm định cả một bối cảnh vùng cao nguyên BMT, khởi đầu dẫn dắt đến ngày 30/4/1975 thương đau của dân tộc.
Toàn bộ những bài vở của Vĩnh Hiếu, tuy còn một số thiếu xót, nhưng đã ôm chặt bầu nhiệt huyết của một chàng trai thương yêu của mẹ Việt Nam. Do thế, nếu ai còn trăn trở khắc khoải với dân tộc, quê hương, với ngày 30/4/1975 oan khiên, xin hãy tìm đọc cuốn bút ký chiến trường “TRÊN VÒM TRỜI LỬA ĐẠN” của Vĩnh Hiếu, phi công Phi Ðoàn 215 Thần Tượng.
Xin chân thành cảm ơn qúy vị.
Đặng Chí Bình
Filed under: Không Quân Vĩnh Hiếu | Leave a Comment »
Huỳnh Tâm: Chiến lũy Trung Cộng trên lãnh thổ Việt Nam (Kỳ 1)
Filed under: BÌNH LUẬN - QUAN ĐIỂM, SỰ THẬT, TÀI-LIỆU | Leave a Comment »
Duyên Anh: TRẠI TẬP TRUNG (Cachot Chí Hòa)
Filed under: Duyên Anh, HỒI KÝ - BÚT KÝ | Leave a Comment »
Duyên Anh: NHỮNG ĐỨA TRẺ THÁI BÌNH (Phần IV – 74…82)
Filed under: Duyên Anh, TRUYỆN DÀI - TIỂU THUYẾT | Tagged: Duyên Anh, nhung dua tre thai binh | Leave a Comment »
Duyên Anh: NHỮNG ĐỨA TRẺ THÁI BÌNH (Phần IV -67…73)
Filed under: Duyên Anh, TRUYỆN DÀI - TIỂU THUYẾT | Leave a Comment »
Duyên Anh: TRẠI TẬP TRUNG (Conex)
Filed under: Duyên Anh, HỒI KÝ - BÚT KÝ | Leave a Comment »
Minh Võ: TÂM SỰ NƯỚC NON 2 (Mục Lục – Thay Lời Tựa)

Chân thành cám ơn bác Minh Võ
đã gửi tặng sách cũng như cho phép Lê Thy đánh máy lại
và đăng trên BVCV.
Mục Lục
Thay lời tựa
1. Hồ Chí Minh – Ngô Đình Diệm và cuộc chiến Quốc-Cộng
2. Chiến tranh ý thức hệ
4. McNamara và chiến tranh Việt Nam
5. Chiến tranh Việt-Pháp?
6. Trở lại danh xưng “chiến tranh Việt-Pháp”
7. Chống cộng hay chống độc tài?
8. Đừng oán trách nàng
9. Thiện Tâm nhưng Đãng Trí?
10. Khủng bố 911 và viễn ảnh thế chiến IV
11. Hoàng Xuân Hãn đúng hay sai?
12. Một thế chiến lược toàn cầu mới đã ló dạng
13. Bầu cử ở Iraq và Phiếu Trắng
14. Một cơ hội bằng vàng.
15. Trở lại vấn đề PHIẾU TRẮNG
16. Con tố cha, vợ tố chồng
17. Chuyên chính vô sản và các đại hội ĐCS
18. Từ Đại Hội (X) đến Quốc Hội (XII) (hay Quốc Hội của Đảng)
19. Hãy nhắm trúng tâm điểm
20. Linh mục Chân Tín định siết cổ “đảng ta”
21. Tin tặc và sự thật thật
22. Đấu tranh cho một lá cờ
23 Cổ Tổng Thống Ronald Reagan và Giáo Hoàng John Paul II
Thư mục
Danh mục
Filed under: Tâm Sự Nước Non 2 | Leave a Comment »
Duyên Anh: NHỮNG ĐỨA TRẺ THÁI BÌNH (Phần III – 58…66)
Filed under: Duyên Anh, TRUYỆN DÀI - TIỂU THUYẾT | Leave a Comment »
Duyên Anh: NHỮNG ĐỨA TRẺ THÁI BÌNH (Phần III – 49…57)
Filed under: Duyên Anh, TRUYỆN DÀI - TIỂU THUYẾT | Leave a Comment »
Duyên Anh: NHỮNG ĐỨA TRẺ THÁI BÌNH (Phần III – 41…49)
LTS: Vì đây là cuốn tiểu thuyết lịch sử, nhất là chúng tôi lục đăng cốt để thế hệ trẻ biết những sự việc xảy ra vào thời kỳ tác giả viết, do đó có đôi chỗ lầm lẫn về sử kiện, chúng tôi mạn phép ghi nhận như sau:
Tuần Lễ Vàng được tổ chức vào ngày 8-9-1945, một ngày trước khi quân đội Trung Hoa Quốc Gia đầu tiên tới (9-9), thì chưa thể có chuyện thủ tiêu sĩ quan Tàu ở Thái Bình như trong đoạn 55, và quân Tàu chỉ bắt đầu rút ngày 10-6-1946.
Do đó, chúng tôi xin đề nghị độc giả, sau đoạn 49, đọc nhảy qua đoạn 55, nhưng bỏ chuyện thủ tiêu, rồi mới đọc tiếp trở lại đoạn 50 cho đến hết, vừa hợp lý, vừa đúng sự thực.
Filed under: Duyên Anh, TRUYỆN DÀI - TIỂU THUYẾT | Leave a Comment »
Những Viên Đạn Hợp Âm (Linh Vũ)
Những Viên Đạn Hợp Âm
Sau khi nghe cuộc phỏng vấn Nhạc Sĩ Trúc Hồ trên đài SBTN với những lời nói nghẹn ngào như muốn rơi nước mắt khi nói đến người bạn trẻ Nhạc Sĩ Việt Khang đã can đảm dám ký bản án tử tù bằng một nhạc phẩm “Anh Là Ai”. Với một nghĩa cử anh hùng đó không chỉ Nhạc Sị Trúc Hồ rướm nước mắt, mà chính chúng tôi và những đồng hương cũng rơi lệ khi nghe nhạc phẩm “Anh Là Ai”. Chúng tôi là những người lớn tuổi, niềm hy vọng đã tiêu mòn theo năm tháng, nhưng hôm nay người Nhạc Sĩ trẻ Việt Khang đã bật sáng chiếc que diêm trong trái tim chúng tôi một lần nữa sau nhạc phẩm “Việt Nam Tôi Đâu” cũng như Nhạc Sĩ Trúc Hồ trong nhạc phẩm “Đáp Lời Sông Núi” Hoàng Nhật Thông với “Tuổi trẻ Việt Nam” & “Nỗi Đau Quê Hương” đã khơi lại trong lòng mọi người một trách nhiệm, một bổn phận của người Việt yêu nước.
Hôm nay chúng tôi muốn chia xẻ những suy tư đó với những ai còn ưu tư đến Tố Quốc dân tộc và sự vẹn toàn lãnh thổ.
Tôi gọi Việt Khang là một anh hùng dân tộc vì anh làm những điều mà nhiều người không dám làm, anh dám hy sinh tính mạng cho quê hương Tổ Quốc, anh dám hy sinh cuộc sống tuổi trẻ, tương lai và gia đình của anh cho dân tộc thì xin hỏi chừng đó không đủ là một anh hùng sao? Nếu so sánh với một số Ca Sĩ hải ngoại được cộng đồng nuôi dưỡng, thành danh và kiếm được nhiều tiền, nhưng họ phản bội lại đồng bào về nước ca hát tuyên truyền cho chế độ, thử hỏi chúng ta nên ủng hộ hay cần phải tẩy chay họ? Ca Nhạc sĩ Việt Khang đang sống trong nước, không được tự do, nhưng anh dám cất lên lời hát để biểu lộ tình cảm của mình, để điểm mặt chế độ tàn ác CS. Tại sao anh dám làm vì anh có liêm sĩ, có lương tâm, biết tự trọng không quay về bưng bô cho CS và ngụy biện là chúng tôi là nghệ sĩ làm nghệ thuật.(Chế Linh, Lệ Thu, Elvis Phuơng, Hương Lan, Tuấn Ngọc, Quang Lê..v.v.)
Nhạc Sĩ Việt Khang hơn các Ca Sĩ dỏm đó nhiều lắm, chúng ta không cần phải nói nhiều những người chỉ biết sống vì đồng tiền, không trái tim, không thể cảm hóa họ được. Nếu đem so sánh Việt Khang với nhưng người chiến sĩ thì anh cũng xứng đáng là một anh hùng, anh không có cơ hội chiến đấu bằng súng đạn để bắn kẻ thù, nhưng anh có cây đàn, nốt nhạc, có ngòi bút để trực diện đâm thẳng vào trái tim địch. Chúng tôi là những người đã từng chiến đấu trên chiến trường, nhiều vị là tướng lãnh là những anh hùng dân tộc, dám chết vì không giữ được thành, đó là chuyện tự nhiển, nhưng dù sao thì các ông ấy cũng có ít nhất một thời gian hưởng bổng lộc của chức vị, cuộc sống, còn Việt Khang chưa được hưởng những ngày tháng của lứa tuổi thanh xuân của mình mà tự nguyện dâng hiến cuộc đời cho Dân tôc, chấp nhận đứng trước họng súng của bạo quyền. Thật cao qúi thay cho những người trẻ hôm nay. Anh đã can đảm dùng tài mọn của mình để gào thét nỗi đau của dân tộc đang trong hiểm họa xăm lăng của Tàu Cộng phương Bắc. Anh biết hành động đó sẽ đẩy anh vào tù, sẽ bị đánh đâp, sẽ tử hình dưới họng súng của bạo tàn. Nhưng anh cương quyết đánh đổi số mệnh như một Mohamed Buoazizi ở lứa tuồi 26 tại Tunisia Bắc Phi, (North Africa) hay những người trẻ ở Libya, Yenmen, Bahrain, Jordan, Algeria, Maroc.v.v đã làm cho những bạo quyền thay đổi đường lối cai trị.
Những nốt nhạc của Việt khang sẽ là tiếng chuông báo động, đánh thức tuổi trẻ VN đứng lên đáp lời sông núi, đánh đổ bạo quyền và giải phóng dân tộc. Anh đã đốt lên ngọn đuốc, hy vọng ngọn đuốc này sẽ nung đúc cho hằng triệu trái tim VN vùng dậy. Chúng tôi hy vọng đây là một biểu tượng khơi đầu cho cuộc cách mạng Hoa Sen , Hoa Lài, Hoa cãi, Hoa Hồng nào đó.v.v ở VN. Các bạn trẻ ở Bắc Phi, ở Trung Đông họ dám hy sinh cho đất nước họ thì tại sao các bạn không làm được? các bạn có sẳn lòng kiêu hãnh là con rồng cháu tiên, có lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến, có hằng trăm anh hùng bất khuất thì chẳng nhẽ đành cam phận tôi đày. Chúng tôi cả quyết với các bạn, với con tim và nhiệt huyết tuổi trẻ hôm nay các bạn có thể đánh sập chiếc ngai vàng kiên cố của các nhà độc tài, độc đảng cai trị bằng bạo lực, sẽ bẻ cong họng súng của bọn CSVN. Các bạn hãy nhìn xem, Tổng Thống Zine El Abidine Ben Ali chưa đầy 30 ngày đã phải trốn chạy, một Muammar Kadhafi, phải chết trong cống rãnh, một Bouteflika của Algeria phải run sợ, lòng dân là sức mạnh của bão tố vô địch. Các bạn đừng sợ sẽ bị đàn áp, dù là CS hay Phát xít, Công An hay Quân Đội họ đều còn một chút nhân tính, chúng tôi còn nhớ câu nói của một vị tướng Liên Sô Yazov:Khi đứng trước một khối lượng hàng trăm ngàn người dân chúng ở Moskva xuống đường bảo vệ chính quyền dân chủ, tôi cảm thấy cái trách nhiệm của mình quá lớn trước lịch sử, nên tôi không muốn quân đội do tôi chỉ huy phải bắn giết nhân dân tôi và cuối cùng tôi đã ra lệnh rút ra khỏi Moskva. Tôi nghĩ bọn CS sẽ còn chút lương tâm sẽ không dám nhận cái tội ác giết đồng bào mình trước lịch sử và để nhân loại thế giới nguyền rủa khinh khi.
Các bạn phải mạnh dạn đứng lên để tự do dân chủ về với dân tộc, với nhân loại. Chúng tôi thiết nghĩ đây là lúc thời cơ đã đến, hãy nắm bắt cơ hội để toàn dân đồng đứng lên lật đổ bạo quyền CS cứu nguy dân tộc. Các bạn trẻ trong và ngoài nước hãy noi gương anh hùng Việt Khang đứng lên giải phóng quê hương thoát khỏi gông cùm CS. Hãy noi gương các anh hùng dân tôc Quang Trung, Hưng Đạo Vương, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi. Lê lợi, Ngô Quyền, Nguyễn Thái Học, Hai bà Trưng, Triệu.v.v để không hổ thẹn với tổ tiên. Thà chết vinh còn hơn sống nhục.
Hoàn cảnh hôm nay chúng ta đừng nói hoa mỹ hai tiếng tự hào dân tôc mà hãy làm những điều mà dân tộc tự hào. Các bạn trẻ hãy cùng nhau đứng thằng người, tay trong tay, đi bằng đôi chân và con tim can trường của các bạn đến Quãng Trường Ba Đình, vứt xác tên tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh vào xọt rác và chưởi thẳng vào mặt bọn chớp bu ở Ba Đình đừng hút máu dân lành, đừng mị dân để bán nước. Các bạn trẻ trong quân đội hãy quay súng lại làm lịch sử, bắn vào đầu những tên bán nước, dâng đất, dâng biển cho Tàu Cộng. Tôi cam chắc nhân dân sẽ đứng về phía bạn, một người làm, một Tiểu Đội làm, một Đại Đội làm và toàn Quân lực sẽ làm để cứu nguy đất nước. Nước mất các bạn sẽ mất tất cả. Đừng đắng đo, thời gian không còn để chúng ta chọn lựa, hãy hành động để VN còn tồn tại trên bản đồ thế giới, các bạn có muốn đất nước chúng ta trở thành như Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông và hiện nay VN mất Ải Nam Quan, Bản Giốc, Lạng Sơn. Xin các bạn hãy đi một vòng từ Ải Nam Quan đến tận mũi Cà Mau, các bạn có thấy gì không? có bao nhiểu Tầu Cộng đang lộng hành trên quê hương đất nước chúng ta từ Cao Nguyên đến duyên hải? Họ đã làm chủ quá nhiều đất đai tài sản. Họ xuất nhập tự do không cần giấy thông hành(Visa), xin hỏi các bạn, bao lâu nữa thì chúng ta sẽ không còn đất sống? Các bạn trẻ hãy đứng lên làm lịch sử để con cháu các bạn không hổ thẹn và nguyền rủa vì cha ông hèn nhát.
Chúng ta thường tự hào một dân tôc anh hùng, dám sống, dám chết cho lý tưởng thì hôm nay là cơ hội cho các bạn chứng tỏ thế giới thấy điều đó, là niềm hy vọng của Tổ Quốc, các bạn đừng trở thành con giun nằm khoanh trong chiếc lá, hay một con ruồi chỉ đậu quanh quẩn trên hạt cơm. Đời người quá ngắn hãy sống sao cho cuộc sống mình có ý nghĩa, Hãy trở thành một quả bom nổ giữa lòng đất mẹ để cứu vớt toàn dân. Các bạn hãy nhìn tuổi trẻ trên thế giới họ hành động ra sao, chẳng lẽ họ không biết qúi mạng sống của họ sao, nhưng vì Tồ Quốc dân tôc họ chấp nhận hy sinh để lương tâm họ không xấu hổ là con dân của một đất nước biết yêu chuộng tự do, công bằng và dân chủ.
Hãy mang nhạc-phẩm “Anh Là Ai” của Việt Khang để làm ngòi nổ giữa lòng dân tộc, một tác phẩm xứng đáng và hay nhất thế kỷ. nhạc-phẩm này còn hay gắp ngàn lần những tác phẩm của tay bưng bô Phạm Duy, tay nằm vùng Trịnh Công Sơn. Quí vị nghĩ lại xem tên Việt Gian Phạm Duy có xứng đáng để so sánh với Việt Khang không? chắc chắn là không, không thể đem kẻ tiểu nhân mà luận anh hùng. Các bạn hãy tưởng tượng xem, nếu hôm nay Đại Nhạc Sĩ Phạm Duy nghe được nhạc-phẩm Anh Là Ai của Việt Khang, ông sẽ cảm nhận thế nào? đây có phải là một gáo nước lạnh của thế hệ con cháu tát vào mặt ông ở cuối đời! Dù là một nghệ sĩ ở tầm mức nào, điều quan trọng để mọi người quí trọng là phải có liêm sỉ, tự trọng, biết hy sinh và trái tim chân chính không tráo trở.
Hởi đồng bào trong và ngoài nước, các tôn giáo nghĩ gì khi đất nước điêu linh? Chúng tôi cảm thấy xấu hổ cho chính mình vì thiếu trách nhiệm với cộng đồng với dân tộc. Có bao giờ qúi vị nghĩ rằng trong nhiều năm qua chúng ta sống như một ký sinh trùng không mang lợi ích cho tha nhân. Có người đã nói: “Cái nhục không phải là cái khiếp sợ trước cường quyền Cộng sản đàn áp, nhưng cái ghê tởm nhất là cái thờ ơ vô cảm của con người hèn nhát bị Cộng Sản nhồi sọ, đe dọa trước sự đánh đập dã man, giết người vô tôi của cán bộ CS…mà chính mình ngoảnh mặt làm ngơ..”
Xin qúi vị lãnh đạo tôn giáo, những người mệnh danh là kẻ tu hành, chẳng lẽ đi tu chúng ta chỉ biết gõ mõ, đọc kinh để mau lên Thiên Đàng, Niết Bàn, như vậy có ích kỷ lắm không ? chúng ta hãy hiệp lực để cứu nguy dân tôc. Nếu qúi vị cố tình ngoảnh mặt làm ngơ, không hy sinh cứu nhân độ thế thì qúi vị sẽ không bao giờ thăng hoa đến nơi nào tốt hơn đâu. Hãy dấn thân như một Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Linh Mục Nguyễn Văn Khải, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, LM Phan Văn Lợi và nhiều Mục Sư khác, hay như các nhà tranh đấu Nguyễn Văn Đài, Lê Quốc Quân, Trần Văn Bá, Phạm Hồng Sơn, Hồ Thị Bích Khương, LS Lê Trần Luật, Nguyễn Bắc Tuyển, LS Lê Thị Công Nhân, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Luật Gia Phạm Thế Hải, Bùi Thị Minh Hằng, Bloger Điếu cày.v.v. Hãy một lòng đứng lên để tìm chút tự do cho dân tộc. Đạo nào cũng tiến đến mục đích chân thiện mỹ, nhưng đạo mà không hy sinh để giải phóng con người, cho nhân loại thì khi chết đi khó đạt được miền cực lạc hay Thiên Đàng vì lòng chúng ta còn quá nhiều ích kỷ. Tôi còn nhớ trước năm 75 nhiều vị dám xuống đường hàng chục ngàn người, dám tự thiêu trên đường phố để phản đối những gì qúi vị không thích. Chính phủ thời đó thật ra chưa đến nỗi nào như chế độ gian ác, tàn bạo hôm nay, nhưng qúi vị dám xuống đường. Hôm nay thì sao, quí vị sợ gì? Súng đạn, tiền bạc hay ham sống? Sự thật sẽ giải phóng con người, hành động để giải thoát nỗi trầm luân, khổ đau của dân tộc, nếu tất cả các tôn giáo cùng đứng lên thì ngọn sóng thần sẽ cuốn trôi bạo quyền trong chớp mắt.
Xin qúi vị hãy biết độ lượng, cảm thông, yêu thương tha nhân và thấy được nỗi bất hạnh của đất nước. Hiện nay đất nước VN đang bị bọn CS đàn áp dân lành, đang cướp công cướp của, cướp ruộng đất và giết chóc người dân vô tội. Chúng ta nghĩ sao với 90 triệu người VN đang bức hại hiện nay? Liệu chúng ta có lên Thiên Đàng hay Niết Bàn khi chúng ta ngoảnh mặt làm ngơ trước thời cuộc đảo điên của vận nước? đường lên Thiên Đàng hay Niết Bàn không thể bằng tiền bạc cúng dường thật nhiều, lần hạt mỗi đêm, gõ mõ mỗi giờ để được ghi danh lên với Chúa với Phật. Tôi tin chắc không phải thế, trời Phật muốn chúng ta hành thiên cứu thế như Nhạc Sĩ Việt Khang, Nhạc sĩ Hoàng Nhật Thông như Cha Nguyễn Văn Lý, như Trần Văn Bá, như anh Đoàn Văn Vươn không khíếp sợ trước bạo quyền, mới xứng đáng lên cõi trên. Cất chùa, nhà thờ thật nhiều, thật to để làm gì khi con người xung quanh ta đang khổ đau, đang đưa tay nhờ ta cứu giúp. Đừng đọc những lời cầu nguyện mà hãy làm những gì trong lời cầu nguyện đó mới thực đi tu cứu nhân độ thế.
Chúng ta là những người may mắn sống ở nước ngoài có đầy đủ tự do, dân chủ, nhân quyền. Chúng ta no cơm ấm áo, con cái chúng ta học hành thành đạt gắp trăm ngàn lần những người trong nước. Nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi, hay nói với con cháu biết lý do tại sao chúng ta có mặt tại đây không? Thậm chí, có nhiều người chối từ căn cước tị nạn CS của mình, khi được trời cho chút may mắn ăn nên làm ra, có chút danh vọng đã quên cội nguồn, dân tộc và ngoảnh mặt trước khổ đau của đồng bào ruột thịt. Họ đã quên những uất hận đầy máu và nước mắt của những đêm đào đất chôn vài lít dầu, mướn ghe để tìm đường vượt biên. Chúng ta là ai? là những người tị nạn CS hay vì kinh tế?
Hôm nay, khi con người quá đầy đủ thì lòng thương xót cũng vơi đi. Chúng tôi đã nhìn thấy trong những sinh hoạt tranh đấu cho đồng bào, cho đất nước lâm nguy, còn rất nhiều người vô cảm đến rợn người, thậm chí còn buông lời chê trách. Những ánh mắt, những hành động thờ ơ trước thời cuộc với đồng bào, với Tồ Quốc, thật không còn gì đau xót cho bằng. Thậm chí có một vài bạn trẻ đã thành công nơi xứ người, Bác Sĩ, Kỹ Sư, nhưng họ đã mau quên dĩ vãng của mình, sự ra đi đầy nước mắt và máu của cha mẹ mà buông lời miệt thị những người già trong những cuộc xuống đường tranh đấu. Cũng như có một số người trong Cộng Đồng chúng ta, khi sinh hoạt không dám nói, không dám hô hào, không lên tiếng, né tránh chụp hình, camera vì sợ có hình ảnh trên báo chí không về được VN. Thử hỏi có những con người như thế thì làm sao ngọn lửa đấu tranh có thể bùng cháy được, làm sao có cơ hội cứu đất nước? Hãy nhìn Việt Khang dám anh dũng trước họng súng của bạo tàn.
Nhạc Sĩ Việt Khang thật sự là một anh hùng, anh không cần khoác lên mình bất cứ một thứ nhãn hiệu nào, anh không sợ bị bỏ tù, không sợ chết vì trong anh có trái tim can trường biết hy sinh vì dân tộc, anh không cần khoe khoang bề ngoài, không cần ai vinh danh, không cần ghi ơn, không cần phủ cờ tuyên dương công trạng, mà anh cần sự hy sinh đề cứu đất nước dân tộc. Tiếng Việt Khang gào thét bằng trái tim chân tình của một người trẻ VN ưu tư vận nước. Anh mang dòng máu Lạc long không muốn hổ thẹn cùng núi sông, cùng đồng bào và tiền nhân, Tổ Quốc, trong khi có nhiều người không biết mình là ai.
Xin hỏi anh là ai?
sao bắt tôi, tôi làm điều gì sai
Xin hỏi anh là ai?
sao đánh tôi, chẳng một chút nương tay
Xin hỏi anh là ai?
không cho tôi xuống đường để tỏ bày
tinh yêu quê hương này
dân tộc này đã quá nhiều đắng cay.
Xin hỏi anh ở đâu?
ngăn bước tôi, chống giặc tàu ngoại xâm
Xin hỏi anh ở đâu?
sao mắng tôi, bằng giọng nói dân tôi
dân tộc anh ở đâu?
sao đan tâm, làm tay sai cho tàu
để ngàn sau ghi dấu
bàn tay nào, nhuộm đầy máu đồng bào.
Tôi không thể ngồi yên
khi nước việt nam đang ngã nghiêng
dân tộc tôi, sấp phải đắm chìm
một ngàn năm hay triền miên tăm tối
Tôi không thể ngồi yên
để đời sau cháu con tôi làm người
cội nguồn ở đâu?
khi thế giới này đã không còn Việt Nam.
Tôi không thể ngồi yên
khi nước việt nam đang ngã nghiêng
dân tộc tôi sắp phải đắm chìm
một ngàn năm hay triền miên tăm tối
Tôi không thể ngồi yên
để đời sau cháu con tôi làm người
cội nguồn ở đâu?
khi thế giới này đã không còn Việt Nam.
Xin hỏi có tiếng kêu nào thống thiết hơn của những người trẻ hôm nay, một tiếng kêu vì số phận quê hương nghiệt ngã, một bất công của xã hội, của một chính phủ độc tài đảng trị. Nhạc Sĩ Việt Khang và Hoàng Nhật Thông đã hỏi chúng ta phải làm gì cho Tổ Quốc? chúng ta còn chút tình tự dân tộc để tranh đấu mang lại chút công lý, dân chủ, nhân quyền cho quê hương. Những uất hận hôm nay có làm chúng ta đau xót ngậm ngùi? Nếu chúng ta thờ ơ, vô cảm thì một ngày không xa VN sẽ không còn tên gọi trên thế giới như những nốt nhạc Việt Khang đã viết: Khi thế giới này đã không còn Việt nam
Linh Vũ
Filed under: BÌNH LUẬN - QUAN ĐIỂM, Video Nhạc và Tài Liệu | Leave a Comment »
Ai Giết Anh Em TT. Ngô Đình Diệm -10- (Quốc Đại)
| Chương 10 TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG |
Lễ Các thánh (1-11) là một trong những lễ quan trọng của Giáo hội Thiên Chúa giáo. Đối với Tổng Thống Diệm ngày lễ này mang rất nhiều ý nghĩa và khi còn sinh thời, bao giờ ông cũng sửa soạn mấy ngày từ trước khi xưng tội, cầm lòng… và làm một vài việc có ý nghĩa nhất để gọi là là bó hoa thiêng liêng dâng lên Thượng đế.
Lễ Các thánh đối với các tín đồ Thiên Chúa giáo mộ đạo là một dịp sống đạo và cầu nguyện cho trở nên Thánh và mỗi ngày sống cho thánh thiện. Lễ này được lập lên để kính các vị Thánh vô danh của giáo hội. mình. Chính vì sự lạc quan và chủ quan của hai anh em Tổng Thống Diệm cho nên những nhân vật thân cận nhất cũng mắc bệnh lạc quan và chủ quan như vậy. Do đó, 10 giờ sáng 1-11, Đại tá Lê Quang Tung (Tư lệnh đặc biệt) cũng như Trung tá Khôi (Tư lệnh lữ đoàn liên binh phòng vệ Phủ Tổng Thống) đã vào Bộ Tổng tham mưu như thường lệ. Tất nhiên là trong dầu óc họ không có một chút hoài nghi nào và cũng vì thế nên không cần báo cáo lên thượng cấp. Các tướng tá hội họp hàng tuần như vậy vẫn là một thông lệ.
Tổng nha Cảnh sát quốc gia (Đại tá Nguyễn văn Y) Trung ương tình báo và Sở Nghiên cứu chính trị (do Trung tá Đường thay thế bác sĩ Trần Kim Tuyến)… tất cả mấy cơ quan trên tuy hoạt động ngày đêm song về chuyện đảo chính vẫn không thấy động tĩnh gì cả. Và chỉ là việc đang theo dõi, tìm kiếm, khám phá.
Tóm lại, buổi sáng ngày 1-11, ông cố vấn Nhu không nhận được tin tức nào về đảo chính ngoài việc khám phá âm mưu của Đại tá Có. Ông vẫn chủ quan tin vào lực lượng phản đảo chính cua ông.
Nếu cuộc đảo chính xảy ra ông sẽ trao cho Thanh niên Cộng hòa phận sự giữ gìn an ninh trật tự tại Đô thành, tạm thời thay thế cảnh sát (vì kinh nghiệm vụ đảo chính hụt năm 60 Đô thành coi như bỏ ngỏ, cảnh sát thì tự động biến mất). Về quân sự thì quân đoàn III đã có tướng Tôn Thất Đính…
Về hải quân, ông Nhu rất tin tưởng nơi Đại tá Hồ Tấn Quyền… Ông Nhu vẫn tin tưởng với tất cả sự lạc quan vào lực lượng của chính quyền có thể đương đầu với bất cứ một cuộc đảo chính nào. Từ khoảng tháng 8-1963 đã có nhiều nguồn tin theo đó ông Cố vấn Nhu sẽ đảo chính để lật đổ bào huynh và chính ông sẽ nắm quyền lãnh đạo. Nguồn tin này có lẽ được thêu dệt quá lời tuyên bố của ông Nhu trước hội nghị các đại biểu ấp chiến lược ông Nhu nói rằng, nếu chính quyền bất lực thì không còn phục vụ được nhân dân và Tổ quốc thì chính ông là người đầu tiên đứng lên đảo chính chứ không cần phải chờ đợi ai đảo chính. Lời tuyên bố này nhằm cảnh cáo một số quan chức tắc trách và đồng thời cảnh cáo trước mọi âm mưu phiến loạn. Sự việc chỉ có thế.
Chết vì chủ quan hay chết vì phản bội?
Các nhân vật thân cận cho hay, vào cuối tháng 10, chính quyền lại có vẻ vững vàng hơn bất cứ lúc nào. Điều làm cho chính quyền lo ngại nhất là các đơn vị lữ đoàn nhảy dù. Sau cuộc đảo chính hụt ngày 11-11-1960, chính quyền mới nhận chân được khả năng sung yếu của các đơn vị mũ đỏ.
Tuy nhiên sau ngày 11-11-1960, lữ đoàn này đã được trao cho một sĩ quan thân tín tức Đại tá Cao văn Viên ngoài một số đơn vị trưởng ở cấp tiểu đoàn và trung đoàn đã được Sở Nghiên cứu móc nối và được coi như người trong nhà.
Từ tháng 5-1963 ông cố vấn Ngô Đình Nhu đã tiên liệu trước sau rồi thế nào cũng có đảo chính, nhưng ông vẫn yên trí có thể dập tắt được ngay vì những tướng tá âm mưu đảo chính đều không có quân trong tay kể cả Trung tướng Trần văn Đôn, quyền Tổng tham mưu trưởng cũng sẽ không thể làm gì được hơn vì trên thực tế, ông Đôn vẫn là tướng không có quân.
Vì chủ quan quá mức như vậy nên ông Cố vấn Nhu vẫn bình thản trầm ngâm với điếu thuốc lá Job, trong cùng thời khắc đó tướng lãnh đang quyết định lật đổ chế độ… 12 giờ trưa, Tổng Thống Diệm theo thông lệ vẫn lần tràng hạt và đọc kinh trước khi dùng bữa. Cũng thời khắc đó, trên xa lộ Thủ Đức, Đại tá Hồ Tấn Quyền đã bị bắn chết. Cái chết của Đại tá Quyền cũng bất ngờ và tức tưởi như cái chết của hai anh em Tổng Thống Diệm.
Ông Cố vấn Nhu đã nắm vững được những yếu tố nào để có thể an tâm và chủ quan như vậy? Kể từ khi Mỹ ngưng viện trợ và tìm mọi áp lực để Tổng Thống Diệm phải khuất phục theo đường lối của họ, ông Cố vấn đã tìm được Đồng minh khác khả dĩ có thể hỗ trợ chế độ trong nhất thời và cũng là cách tạo nên một thế tựa để làm điều kiện với Mỹ.
Trong 9 năm cầm quyền anh em Tổng Thống Diệm chua xót nghĩ về viện trợ Mỹ và hiểu thế nào là Đồng minh theo cách nhìn của Mỹ.
Đồng minh của anh em Tổng Thống Diệm không ai khác hơn là Pháp. Kể từ năm 1945, chưa bao giờ mối bang giao Việt Pháp tạo được điều kiện thân hữu tốt đẹp như năm 1963.
Lúc bấy giờ về phía nội bộ, vụ Phật giáo được coi như đã tạm yên. Phe đối lập gồm một số tướng lãnh mà ông Nhu tin rằng họ sẽ không làm gì được trừ phi Mỹ quyết tâm. Song sự quyết tâm của Mỹ cũng chỉ có thể trong vòng bí mật. Tất nhiên Mỹ không thể công khai hỗ trợ bất cứ một phe nhóm nào dùng võ lực để lật đổ chính quyền hợp pháp. Vì còn dư luận quốc tế, Anh, Pháp. Ông Nhu vẫn tỏ ra coi thường thế lực của phe đang âm mưu đảo chính. Theo ông điều giản dị là họ không có quân, không có uy tín trong quần chúng. Một số tướng tá đang nắm thực quyền chỉ huy tại các nha sở và đơn vị thì đều là người tin dùng của chế độ… Sự tin tưởng của ông Nhu cũng có lý vì giả thử rằng, nếu Đại tá Đỗ Mậu (Giám đốc Nha An ninh quân đội) cũng như tướng Đính không theo phe đảo chính thì đảo chính cũng khó lòng thành công.
Tuy nhiên, cái lỗi lầm nhất của ông Nhu vẫn là bệnh chủ quan và đã đặt quá nhiều tin tưởng vào một số nhân sự mà ông cũng như Tổng Thống Diệm cho đến giờ phút cuối cùng vẫn không thể ngờ rằng, họ đã phản mình. Sự thật là hầu hết các tướng lãnh đều là đảng viên Đảng Cần lao, như Chủ tịch Quân ủy Cần lao vốn là tướng Lễ (nhiệm kỳ I) tướng Chiểu (nhiệm kỳ II) cho đến ngày 1-11-1963 các tướng Đôn, Nghiêm, Oai, Khánh, Cao… Các Đại tá Đỗ Mậu, Nguyễn văn Chuẩn, Lâm văn Phát. Các Trung tá Đỗ Khắc Mai, Nguyễn văn Thiệu… đều là đảng viên cao cấp của Đảng Cần lao.
Một số tướng tá thân tín của chế độ cũng chủ quan tin tưởng như ông Diệm ông Nhu cho nên trước nguồn tin sẽ có đảo chính, Đại tá Hồ Tấn Quyền vẫn tuyên bố với mấy sĩ quan thân tín của ông “Nhảy dù là mình phải nắm vững, hải quân là do nơi tôi. Chỉ cần huy động hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến là có thể dẹp tan được đảo chính”.
Trước sau có thể nói chính quyền vừa quá chủ quan và khả năng tình báo lại quá yếu, nên đảo chính bùng nổ như ông Nhu đã tiên liệu mà không có phương sách đối phó.
Trong dinh
Khi từng loạt súng nổ ran ở phía Tổng nha Cảnh sát và được báo cáo cho biết có một số binh sĩ thủy quân lục chiến đang tiến vào thành phố, cho đến lúc này ông Nhu vẫn bình tâm và ông Vỹ được gọi vào dinh. Kể từ 1 giờ 30 trong dinh Gia Long Bộ Tham mưu cao cấp không còn ai khác hơn là hai anh em Tổng Thống Diệm và ông Cao Xuân Vỹ.
Tại sao chỉ có bằng ấy người? Thực ra khi có binh biến như vậy anh em Tổng Thống Diệm hay ở địa vị ai cũng chỉ còn trông cậy vào quân đội. Phía dân sự nếu có nhiều người thì chỉ làm bận chân.
Dinh Gia Long gọi diện thoại lên Bộ Tổng tham mưu thì không một ai trả lời (đường dây đã bị cắt) khi gọi điện thoại cho Biệt khu Thủ đô, quân đoàn III thì hai nơi này cũng bặt tin. Khi quay sang Bộ Tư lệnh hải quân gọi Đại tá Quyền thì cũng không có tiếng chuông reo. Tuy nhiên dinh Gia Long cũng vẫn còn liên lạc được với một số cơ quan dân sự đầu não như Tổng Nha Cảnh sát quốc gia, Thanh niên Cộng hòa, Trung ương tình báo, Bộ Công dân vụ. Việc đầu tiên là Tỏng thống Diệm gọi điện thoại cho Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ và một số Bộ trưởng để chỉ thị cho họ một số điều cần thiết như tạm thời ẩn náu giừ vững tinh thần.
Vị Bộ trưởng trốn lẹ nhất không ai khác hơn là ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng kiêm nhiệm Bộ Phủ Tổng Thống Cho đến chiều dinh Gia Long vẫn còn bắt liên lạc được với một số tỉnh tại Cao nguyên và Trung nguyên Trung phần cũng như Bộ Tư lệnh quân đoàn I và quân đoàn II. Nhưng không sao bắt liên lạc được với quân đoàn IV của tướng Huỳnh văn Cao. Kể từ 1 giờ 30 đến khi hai anh em ông Diệm ra khỏi dinh Gia Long Bộ Tham mưu, quân đoàn I và quân đoàn II là hai đơn vị mà Tổng Thống Diệm vẫn liên lạc được cho đến phút chót và tướng Nguyễn Khánh cũng là tướng lãnh duy nhất qua đường dây liên lạc vẫn tỏ bày lòng cương quyết trung thành với Tổng Thống Diệm. Ông Khánh cho biết quân đoàn II sẽ tiếp cứu dinh Gia Long, tướng Khánh còn lưu ý với Bộ Tham mưu dinh Gia Long: “Các toa phải ráng giũ, đứng có nghe lời tụi nó. Không tin mấy thằng đó được, quân đoàn II sẵn sàng phản công phe đảo chính”.
Đường dây đã đứt
Sau vụ đảo chính hụt 11-11-1960, Sở Nghiên cứu Chính trị đã áp dụng một kế hoạch chống đảo chính rất hữu hiệu. Nhờ kế hoạch này, một số đơn vị nòng cốt trong lừ đoàn nhảy dù, thủy quân lục chiến, thiết giáp, đều được Sở Nghiên cứu “Chinh phục và tìm bạn” trong hàng sĩ quan mà hầu hết là cấp tiểu đoàn trưởng.
Tháng 9-1963 bác sĩ Trần Kim Tuyến được lệnh cấp tốc lên đường nhận nhiệm vụ mới và Trung tá Đương chính thức thay thế (Trung tá Đương còn là Chánh văn phòng của ông Nhu).
Tuy đã bàn giao công việc, song công việc của Sở Nghiên cứu không đơn giản như các sở khác, giấy tờ hành chính chỉ là phần phụ.
Còn bao nhiêu vấn đề nhiêu khê rắc rối mà phải là người chủ động mới có thể nắm vững. Do đó, người thay thế dù là cận thân ông Cố vấn Nhu cũng không thể nắm vững “đường dây” được móc nối tại các đơn vị chủ lực. Đó cũng là một khuyết điểm lớn đã làm cho chế độ ông Diệm trở tay không kịp khi bị lâm nguy. Thông thường con người có một nhược điểm lớn là bao giờ cũng đặt vấn đề tình cảm cá nhân như một căn bản cho lòng tin tưởng và tinh thần phục vụ. Cho nên với cá nhân ông này thì thuộc cấp hết lòng phục vụ nhưng cá nhân ông kia lại thờ ơ, bất hợp tác.
Kế hoạch “nuôi ba năm dùng một giờ” đã trở thành vô hiệu quả. Nhiều đơn vị khi nhận được lệnh chuyển quân hướng về Sài Gòn đã không biết cấp báo cho ai. Đây là vấn đề quan hệ đến sinh mạng nên không thể cấp báo cho bất kỳ ai mà họ chưa có lòng tin cậy, sự tin cậy đặt trên tình nghĩa và thân hữu. Sau vụ 11-11-1960, Sở Nghiên cứu chính trị cạnh Tổng Thống Diệm đã cố len lỏi vào các đơn vị và tìm bạn. Công tác tìm bạn coi như được hoàn tất vào năm cuối 1962. Những người bạn này không cần nhận một công tác nào cả cũng không được hưởng một quyền lợi nào cả. Duy chỉ có điều họ sẽ được bảo vệ nếu gặp sự bất công ngược đãi của cấp trên hoặc tùy trường hợp sẽ được giúp đỡ theo nhu cầu và ước muốn của mỗi cá nhân.
Tuy vậy, họ luôn luôn được căn dặn một diều, nếu khi nào có lệnh chuyển hướng quân về Sài Gòn, hoặc có điều khả nghi trong động binh thì phải cấp báo ngay cho người có trách nhiệm của Sở Nghiên cứu, và cấp báo trực tiếp, đưa tin đến nhà hoặc điện thoại theo các đường dây riêng. Theo Lương Khải Minh, không những “tìm bạn” như thế này tại các đơn vị cấp tiểu đoàn và trung đoàn, Sở Nghiên cứu còn tìm bạn trong các cơ quan đầu não của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tham mưu, thường thường là sĩ quan cấp úy thuộc ngành truyền tin, quân vận, phòng II, phòng III…
Từ tháng 10-1963 các “đường dây” được thiết lập theo hệ thống “bạn” kể trên nếu không nói là tan rã thì cũng không được kết hợp và phối trí do một người duy nhất điều động. Trong khi đó, ông Nhu lại quá tin tưởng vào một số tướng tá chỉ huy các đơn vị, không hiểu sao ông Nhu lại quên hẳn bài học “Nguyễn Chánh Thi” trong vụ đảo chính 11-11-1960?
Ông vẫn dùng một số tướng tá thân tín để chống lại mọi âm mưu đảo chính. Song ông Nhu đã không ngờ được rằng, khi các tướng tá trên tạm thời liên hiệp với phe âm mưu đảo chính thì một sớm một chiều chế độ của ông trở thành chế độ tay trắng không có quân để bảo vệ (Ngoài lữ đoàn phòng vệ Phủ Tổng Thống và một số quân của lực lượng đặc biệt đã bị phân tán). Thật là một sự tính sai hay đúng hơn là một rủi ro của chủ quan. Đây cũng có thể coi là sự nhầm lẫn do sự thiếu cảm nhận về tâm lý và thực trạng của nhân sự trong quân đội.
Thành bại trong gang tấc
Cho đến sáng ngày 1-11-1963, Đại tá Quyền vẫn không hay biết gì về cuộc đảo chính sẽ bộc phát vào 1 giờ 30 cùng ngày.
Ngày hôm sau cũng là ngày sinh nhật ông, Đại tá Quyền theo thông lệ những ngày nghỉ vẫn đến sân quần vợt của Bộ Tư lệnh hải quân để cùng dượt với các sĩ quan. Trong số các sĩ quan chơi quần vợt sáng hôm ấy, có Thiếu tá Nguyễn Tấn Lực.
Thiếu tá Lực vốn là bạn thân của Đại tá Quyền và cũng là chỉ huy trưởng của một ngành trong hải quân. Vào khoảng 10giờ sáng, sau khi đánh banh xong, viên Thiếu tá này mời Đại tá Quyền lên Thủ Đức dùng cơm với lý do nhân sinh nhật ông Quyền, Thiếu tá Lực muốn có cái hân hạnh được đưa ông đi ăn nhậu. Đại tá Quyền nhận lời ngay, cả hai đi bằng một chiếc Citroen dành cho Tư lệnh hải quân.
Khi lên xa lộ, Thiếu tá Lực mới ngỏ ý với Đại tá Quyền theo phe tướng lãnh đảo chính. Cho đến giờ phút đó Đại tá Quyền mới rõ có đảo chính thật, và không còn là chuyện dư luận đồn đại nữa. Đại tá Quyền không chấp nhận.
Kết quả là Đại tá Quyền bị hạ sát ngay trên xa lộ. Đêm 1-11, Thiếu tá Lực “lò mò” đến Bộ Tư lệnh hải quân nhưng khi đi qua Sở thú thì bị quân của lữ đoàn bắt giữ. Thiếu tá Lực tưởng lầm là quân của phe đảo chính nên tiết lộ với Đại úy Lễ: “Tôi đã sát Đại tá Quyền theo chỉ thị của Trung tướng Dương văn Minh”. Quân của lữ đoàn phòng vệ Phủ Tổng Thống định hạ sát ngay Thiếu tá Lực, Đại úy Lễ xin chỉ thị của Bộ Tư lệnh nhưng được trả lời “Giữ ông Lực lại và không được động chạm tới ông ta”…
L’etat c’est moi – Quốc gia là tôi
Trở lại biến cố ngày 1-11-1963 và cái chết của hai anh em ông Diệm. Như mọi người đã biết, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã chết như một người bị ám sát. Mặc dầu lúc 4 giờ 30 ngày 1, tướng Dương văn Minh với tư cách Chủ tịch Hội đồng Quân nhân cách mạng (phe đảo chính) đã điện đàm với anh em Tổng Thống Diệm.
Với lời hứa rằng nếu Tổng Thống Diệm và bào đệ chịu từ bỏ quyền hành và rời khỏi dinh Gia Long, phe đảo chính sẽ cam kết bảo vệ tính mạng cho hai anh em ông và sẽ để hai anh em ông Diệm ra ngoại quốc với nghi lễ danh dự dành cho một vị Tổng Thống Tổng Thống Diệm đã nói như hét: “Tướng tá mô?”.
Tất nhiên Tổng Thống Diệm đã không chấp thuận sự đầu hàng như vậy. Với một người cứng rắn quá mức như Tổng Thống Diệm cùng với tự ái quá cao và lòng tự tôn, tất nhiên là ông đã coi các tướng lãnh chỉ là các thuộc hạ võ biền (Võ biền theo quan niệm của một nhà Nho) nên đề nghị của tướng Minh đối với ông như là một hành động xúc phạm đến uy quyền tối cao của quốc gia mà ông là tiêu biểu (Tổng Thống Diệm từng nói: “Sau Hiến Pháp còn có tôi”. Thực ra thì ông lãnh đạo quốc gia với một mặc cảm tự tôn Quốc gia là ta, L’état c’est moi). Điều này sẽ giúp ta giải thích rõ tại sao ông Diệm khước từ sự “đầu hàng” và dù cho trong một tình thế nguy nan nhất, ông vẫn giữ vững lập trường đòi các tướng lãnh phải cử đại diện đến Phủ Tổng Thống gặp ông. Theo Đại úy Lê Công Hoàn, Tổng Thống Diệm đập bàn rồi bảo với ông Nhu:
“Chúng nó đến đây rồi thì muốn chi thì muốn”. Tổng Thống Diệm có “cầu cứu” Cabot Lodge không? Thực ra ông có điện đàm với viên Đại sứ này, song chỉ có ý phiền trách và yêu cầu người Mỹ chấm dứt ngay sự hỗ trợ phe đảo chính. Ông Nhu chỉ yêu cầu Cabot Lodge đóng vai trò trung gian giữa dinh Gia Long và Hội đồng Quân nhân. Song Cabot Lodge không thỏa mãn lời yêu cầu này. Cũng tương tự như tướng Minh, khoảng 4 giờ 30 Đại sứ Mỹ Cabot Lodge yêu cầu anh em Tổng Thống rời khỏi dinh Gia Long và đến tỵ nạn tại tòa Đại sứ Mỹ. Sau đó, ông ta sẽ thu xếp để anh em Tổng Thống xuất ngoại. Trong điều kiện này thì Cabot Lodge mới đảm bảo được tính mạng của hai anh em Tổng Thống Diệm và gia đình. Song như đã trình bày ở trên Tổng Thống Diệm đã khước từ dứt khoát. Tổng Thống Diệm cũng như ông Nhu vẫn mong ở thế thắng của mình. Qua Đài Phát thanh lúc 4 giờ Tổng Thống Diệm nghe rõ giọng nói của 22 vị tướng tá xướng danh để áp đảo tinh thần của dinh Gia Long. Ông Diệm bảo Đại úy Bằng và các sĩ quan tùy viên: “Các tướng bị bọn nó bắt là con tin đấy thôi”. Cũng vì vậy khi Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ xin Tổng Thống Diệm cho đem quân của lữ đoàn lên Bộ Tổng tham mưu để giải thoát các tướng tá thì Tổng Thống khước từ với lý do: “Mình đem quân đi giải cứu bọn nó thế cùng nó sẽ giết hết các tướng, để từ từ coi”. Cũng vào lúc 4 giờ 30 Trung tướng Đôn có điện đàm với Tổng Thống Diệm yêu cầu Tổng Thống Diệm và ông Nhu từ bỏ quyền hành và xuất ngoại, vì quân đội đã đứng lên đảo chính và đã vây chặt thành Cộng Hòa và dinh Gia Long. Tổng Thống Diệm nói như quát: “Quân mô? Vây ở mô?”. Sự thực lực lượng đảo chính không đáng kể… Quân của sư đoàn 5 vẫn còn ở bên ngoài Đô thành. Phía Phú Lâm, Chợ Lớn, Cầu Chữ Y, Khánh Hội, Thị Nghè còn bỏ trống. Theo Thiếu tá Lârn văn Phát thì vào giờ đó, Hội đồng tướng lãnh chưa biết phải làm gì và hoàn toàn giao động vì vị nào cũng tưởng rằng khi đọc hiệu triệu trên Đài Phát thanh thì các cánh quân của quân đoàn II (trong đó có sư đoàn 5) đã vây chặt thành Cộng Hòa và dinh Gia Long, cũng như đã làm chủ tình hình Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, nhưng ngược lại các cánh quân chủ lực của cuộc đảo chính vẫn còn rời rạc lẻ tẻ và chưa vượt qua cầu Phan Thanh Giản và Cầu Thị Nghè thì đã bị Lữ đoàn Liên binh phòng vệ chặn đứng ở Dakao và Sở thú.
4 giờ 30 một cú điện thoại từ Bộ Tổng tham mưu gọi cho Thiếu tá Duệ: “Kéo thẳng lên đây, đánh thốc vào Bộ Tổng tham mưu, Ở đây chỉ lèo tèo vài đại đội tân binh và lính truyền tin”. Thiếu tá Duệ hỏi: “Tướng lãnh làm gì trên đó?”. Ông Duệ được trả lời: “Cha con mấy trự đang xanh mặt té đ…”. Sự thực chiến đoàn Vạn Kiếp của Trung tá Vĩnh Lộc cho đến lúc ấy vẫn còn án binh bất động bên cầu Phan Thanh Giản. Khoảng 4 giờ 30, khi Đại tá Phát đến một căn nhà ngay ngã tư Phan Thanh Giản – Đinh Tiên Hoàng được coi như bản doanh tiền phương của sư đoàn 5 và chiến đoàn Vạn Kiếp thì lúc ấy Trung tá Vĩnh Lộc đang say ngất ngư và cũng chưa biết phải tiến quân như thế nào… Sĩ quan cũng như binh sĩ vẫn ngơ ngác không biết phải làm gì… chỉ thị của thượng cấp hết sức mơ hồ.
Tướng Lâm văn Phát cũng tiết lộ vào giờ phút đó, các tướng tá tại Bộ Tổng tham mưu gần như tuyệt vọng, ai nấy đều xanh mặt và đã chuẩn bị vali để lên đường tẩu thoát. Trung tá Nguyễn Cao Kỳ nói: Nếu thất bại sẽ dùng mấy chiếc Dakota của liên đoàn vận tải để đưa các tướng tá qua Thái Lan.
Các tướng tá hồi hộp từng giây từng phút theo dõi cuộc tiến quân của quân đoàn III nhưng chỉ nghe thấy tiếng súng nổ xa xăm… 4 giờ 30, Trung tá Kỳ dẫn hai phi công vào trình diện Hội đồng tướng lãnh – Hai phi công này vừa lái AD-6 nhào lộn oanh kích khu vực thành Cộng Hòa và sự hiện diện của hai chàng phi công này tựa hồ như cơn gió mát giữa cơn nồng nặc nghẹt thở trong phòng Hội đồng.
Trung úy Viên thấy tình hình rất lâm nguy. Bỗng nhiên, ông nhận được tin từ Hội đồng tướng lãnh cho biết: Đại tá Lâm văn Phát tạm thay Đại tá Nguyễn văn Thiệu, thống lãnh sư đoàn 5 để thanh toán dinh Gia Long và thành Cộng Hòa. Được tin này, Trung tướng Dương văn Minh biến sắc. Một số tướng lãnh rỉ tai nhau: “Thôi hỏng rồi.. tại sao Đính lại giao cho Phát như thế tụi nó quật nguợc lại bọn mình rồi”. Không khí nghẹt thở.
Đại tá Lâm văn Phát sáng ngày 1-11 đến Bộ Tư lệnh quân đoàn III để chờ trình diện tướng Đính trước khi xuống Mỹ Tho nhậm chức vụ Tư lệnh sư đoàn 7. Cho đến lúc ấy ông Phát vẫn không hiểu mô tê gì cả nhưng ông đã linh cảm thấy một sự lạ nào đó. Buổi chiều Đại tá Phát lại trở vào Bộ Tư lệnh quân đoàn III. Giữa lúc tướng Đính đang xao xuyến vì sự di chuyển chậm trễ của sư đoàn 5, ông đã yêu cầu Đại tá Phát tạm nắm quyền chỉ huy sư đoàn này để tốc chiến tốc thắng, Đại tá Phát nhận lời. Tướng Đính phải cho người vào kho lấy bộ đồ trận cho Đại tá Phát vì ông mặc đồ vàng. Kể từ phút đó, Đại tá Phát chính thức xung trận. Ông được thăng Thiếu tướng vào lúc 2 giờ 30 đêm ngày 1-11 khi cuộc tấn công dinh Gia Long bắt đầu mở màn.
Ra đi khi trời chưa sáng
Xin trở lại giờ phút quyết định số mạng của hai anh em ông Diệm. Khoảng 4 giờ sáng thứ hai ông Cao Xuân Vỹ hoàn toàn mất liên lạc với hai anh em ông Diệm. Trong suốt buổi tối từ khi đến nhà Mã Tuyên, ông Nhu vẫn thường xuyên liên lạc với một số nhân vật thân tín khác. Ông Nhu quyết định sẽ ra đi trước khi trời sáng. Những người thân tín của ông đã nhận được chỉ thị thu xếp cho hai anh em ông tìm đường lên Cao nguyên. Công việc thu xếp kể như tạm xong chỉ còn chờ hai anh em ông Diệm. Ông Diệm không chịu trốn không chịu cải trang. Ông Diệm đã nói với ông Nhu và ông Cao Xuân Vỹ: “Mình là Tổng Thống thì phải giữ tư thế của vị Tổng Thống Dầu mình chết cũng là vị Tổng Thống”. Theo lời tường thuật lại thì tại nhà Mã Tuyên, dù ông Nhu nhiều lần đề nghị ông Diệm thay quần áo và cải trang cho dễ lẩn trốn trong dân chúng, ông Diệm đã khước từ một cách bực tức. Ông Nhu đã có sẵn một bộ đồ hóa trang, song vì người anh không chịu, ông đành thúc thủ.
Ông Diệm vẫn tin rằng, phe đảo chính sẽ không dám làm gì ông, thì cũng sẽ không giết được ông Nhu.
Quyết định cuối cùng của ông Diệm là nếu chết, chết cả hai “Tôi đi đâu chú đi đó”.
Cũng vì vậy trong giờ phút cuối cùng ở nhà thờ cha Tam, Tổng Thống Diệm lại một lần nữa khước từ không chịu mặc tấm áo “Soutane” của Linh mục, mặc dù ông Diệm có lời tuyên bố phần sống như một tu sĩ.
Dinh Gia Long vẫn đắm chìm trong bóng tối và lặng lẽ. Vấn đề cấp thiết nhất là lương thực. Dinh Gia Long không có kho lương nào. Thiếu tá Hưởng cũng như Thiếu tá Lạc cùng tất cả các sĩ quan đều đồng ý giữ dinh Gia Long bất cứ giá nào. Tinh thần họ chỉ lên cao nhờ binh sĩ cũng một lòng như vậy. Đơn giản, họ chỉ là những quân nhân phục vụ chế độ với lòng trung thành.
Từ khi Tổng Thống Diệm và ông Nhu ra đi, dinh Gia Long không có gì thay đổi, ba đại đội của Lữ đoàn Liên binh phòng vệ đóng chung quanh dinh ra tận chợ Bến Thành, Thiếu tá Lạc cũng như Thiếu tá Hưởng và Đại úy Hoàn kéo nhau ra đường đi vòng quanh quan sát rồi dừng chân ở trước Bộ Quốc phòng. Khi trở lại, có điện thoại cho Hoàn, Hoàn quay lại nói với các sĩ quan: “Liên nó gọi cho moa” (tức Thiếu tá Nguyễn Bá Liên Tham mưu trưởng thủy quân lục chiến trong cuộc đảo chính).
Lúc đầu Thiếu tá Nguyễn Bá Liên chiêu hồi dụ dỗ Đại úy Hoàn và cho rằng nên hàng đi là hơn. Sau Trung tá Liên nhường máy cho một số Đại tá, Trung tá nói chuyện thẳng với Hoàn. Đó là cách áp đảo tinh thần dinh Gia Long. Các Đại tá, Trung tá lần lượt lên tiếng trong đó Trung tá Vĩnh Lộc, Trung tá Thảo rồi đến lượt Trung tá Nguyễn văn Thiệu. Nghe xong Hoàn bỏ máy xuống nhìn anh em mỉm cười.
Đại úy Bằng theo Tổng Thống Diệm và ông Nhu đến Chợ Lớn ở lại một lúc thì Tổng Thống Diệm cho ông về. Ông Bằng không quên mang về một một chai Martell, một tút thuốc lá “tăng cường sức sống cho dinh Gia Long”. Súng vẫn nổ, thỉnh thoảng một trái Mortier rơi gần dinh, mấy sĩ quan trong dinh vẫn bình tĩnh cụng ly. Đại úy Hoàn say ngất ngây cùng mấy sĩ quan khác ngồi tâm sự chuyện đời.
Thiếu tá Nguyễn Bá Liên từ bên ngoài gọi điện thoại kêu gọi dinh Gia Long đầu hàng lần thứ ba. Đại úy Hoàn cảm ơn tình bạn của ông Liên và từ chối.
Quân đảo chính đã làm chủ tình hình Thủ đô, vòng vây mỗi lúc một siết chặt quanh dinh Gia Long. Thiếu tá Phạm văn Hưởng đặt bộ chỉ huy hành quân ngay công viên trước dinh Gia Long. 12 giờ thì ông được thành Cộng Hòa thông báo cho biết bỏ thành. Bảy sĩ quan ở thành Cộng Hòa đang tìm cách về dinh Gia Long. Nhưng đến đường Phùng Khắc Khoan thì đành chịu và rủ nhau trốn vào nhà kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Nhà ông này đi vắng hết, chỉ còn lại một gia nhân. Sau đó đám sĩ quan này mượn quần áo cải trang rồi kéo nhau vào nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.
Ngoài dinh Gia Long vẫn còn ba đại đội của liên Đoàn phòng vệ và trong dinh có thêm một đại đội cận vệ đặt dưới quyền Thiếu tá Lạc. Súng vẫn nổ. Trong dinh lặng lẽ như tờ. Viên Đại úy phụ trách truyền tin xin Thiếu tá Hưởng cho tháo máy và di tản qua Tòa án lấy cớ rằng nếu dinh bị pháo kích, máy truyền tin vẫn an toàn. Mấy ngày sau đảo chính, Đại úy này đã được quân đảo chính vinh thăng Thiếu tá với lý do đã góp công với quân đảo chính bằng cách tháo gỡ máy truyền tin. Không hiểu nguyên nhân nào, một tuần sau ông ta mất lon Thiếu tá.
Vào khoảng 2 giờ sáng ngày 2 súng bắt đầu thi nhau nổ. Đại úy Hoàn bàn với Thiếu tá Lạc là trong tình thế này không thể nào giữ được dinh nữa rồi thế nào quân đảo chính cũng sẽ đánh lớn và thanh toán thành trì cuối cùng này. Hơn nữa Đại úy Hoàn cho rằng Tổng Thống Diệm đã ra đi, Thiếu tá Lạc cho là phải và đồng ý với Đại úy Hoàn là phải báo cho tướng Khiêm rõ. Sau đó Đại úy Hoàn gọi điện thoại cho tướng Khiêm báo cho ông biết. Tổng Thống Diệm và ông Nhu đã ra đi và xin tướng Khiêm ra lệnh ngưng tấn công dinh Gia Long. Tướng Khiêm trả lời: “Được, để qua lo liệu”.
Lúc ấy Bộ chỉ huy nhẹ của Đại tá Phát đặt ngay tại Trường Đại học Văn khoa… Ông Phát trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công dinh Gia Long. Nhưng hầu hết đều bắn lên trời. Thủy quân lục chiến đã tiến đến gần dinh. Một đại đội khác của lữ đoàn phòng vệ vẫn còn giữ được vườn Tao Đàn. Nơi đây được coi như yếu tố số 1 trong việc phòng vệ dinh Tổng Thống
Bộ chỉ huy dinh Gia Long không còn hy vọng được ai tiếp cứu.
Mấy mật báo viên của Thiếu tá Hưởng được sai xuống Phú Lâm xem sư đoàn 7 đã về chưa. Cuối cùng họ trở về báo cáo, có thấy lính của sư đoàn 7 đang di chuyển về phía Thủ đô nhưng không có súng.
Một lúc sau, Đỗ Thọ từ nhà Mã Tuyên gọi điện thoại về dinh và chuyển lời Tổng Thống Diệm đại ý, Tổng Thống Diệm cảm ơn tất cả và bảo Thiếu tá Lạc cố giữ dinh và chờ lệnh của Tổng Thống Khoảng 3 giờ 30 sáng ngày 2, từ nhà Mã Tuyên Chợ Lớn, Tổng Thống Diệm vẫn chỉ thị cho Thiếu tá Lạc “Một mất một còn để bảo vệ dinh”. Nhưng ông Nhu thất vọng: “Không thấm vào đâu, mình yếu họ mạnh” – Theo nhật ký của Đỗ Thọ, Tổng Thống Diệm cho rằng: “Vậy đổ nát, chết chóc, không lợi chi cả”.
Từ 4 giờ 30 sáng ngày 2, dinh Gia Long như con hổ đã lọt vào bẫy, cố vùng vẫy nhưng kiệt sức rồi, Thiếu tá Lạc tính chuyện đầu hàng. Thiếu tá Lạc liên lạc thẳng với Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm. Tướng Khiêm nói rằng: “Nếu thấy không thể giữ nổi thì hàng để tránh đổ máu”. Tướng Khiêm chỉ thị thêm:
“Các Thiếu tá trong dinh phải bật hết đèn pha để làm dấu hiệu đầu hàng”. Thiếu tá Lạc xin được chầm chậm một chút vì ông Lạc cũng như một số sĩ quan vẫn còn do dự để đợi lệnh cuối cùng của Tổng Thống Diệm.
Lúc ấy Bộ chỉ huy của Thiếu tá Hưởng đã di tản qua Đại sứ Lào. Súng nổ chát chúa nhưng hầu hết đều bay lên trời.
Đêm đen như mực. Rồi 6 giờ, trời tang tảng sáng… Dinh Gia Long như quỵ hẳn thay vì bật đèn pha để làm dấu hiệu đầu hàng, ông Lạc lại lấy tấm drap trắng trải giường cột vào đầu gậy chạy ra bao lơn “phất phất”. Phía thủy quân lục chiến cũng như trong dinh nhiều người không trông thấy ngọn cờ drap trắng cho nên tuy đã phất cờ đầu hàng, trong Dinh lại nổ một loạt súng và làm ngã gục mấy thủy quân lục chiến. Phía thủy quân lục chiến nổi giận xông lên.
Súng nổ từng loạt chát chúa, rồi im bặt, dinh Gia Long thất thủ lúc 6 giờ 25. Trung úy Tiêm còn mặc bộ đồ ngủ đi lè phè ở hành lang dinh. Mọi sự thế là xong. Bỗng đâu một viên đạn bay vèo. Trung úy Tiêm ngã gục. Ông chết vào giờ thứ 25 và nâng tỷ số thương vong của lữ đoàn phòng vệ lên 7 người. Dinh Gia Long chỉ có một người chết.
Thiếu tướng Phát công nhận rằng, cuộc tấn công dinh Gia Long quả là gay go. Binh sĩ phía đảo chính thì dè dặt, cấp chỉ huy thì hối thúc hò hét khản cổ họ mới chịu tiến. Khi dinh Gia Long thông báo đầu hàng lính trong dinh vẫn nổ súng từng loạt. Một chiếc thiết giáp tiến lên ngang hông Bộ Quốc phòng phía đường Pasteur thì bị “thổi bay”. Lửa bốc cháy thiêu rụi con cọp sắt vào đúng giờ thứ 25 của trận đánh. Chiếc thiết giáp của Đại úy Bùi Nguyên Ngãi lao lên tiếp cứu tiến đến gần chiếc thiết giáp đang bốc cháy thì bỗng đâu từng loạt đạn nổ vang, Đại úy Ngãi vừa thò đầu ra khỏi xe thì bị bắn gục. Con cọp sắt thứ hai bốc lửa, Đại úy Ngãi gục ngã vào giờ thứ 25.
6 giờ 30 dinh Gia Long nằm gọn trong tay phe đảo chính, Thiếu tướng Nguyễn văn Thiệu vẫn đeo lon Đại tá kéo theo một trung đội tiến vào dinh tiếp thu thành trì cuối cùng của Đệ nhất Cộng hòa tiêu biểu cho uy quyền tối thượng của Việt Nam Cộng hòa.
Từ hầm dinh Gia Long đến nhà Mã Tuyên
Trung sĩ Mộc, thuộc thủy quân lục chiến cho biết ông cùng toán quân của ông là những người thứ nhất đặt chân lên thềm dinh Gia Long và sau đó, ông xuống hầm làm nhiệm vụ lục soát.
Hầm này như thế nào? Đây là nơi Tổng Thống Diệm trong 7 tiếng đồng hồ của buổi chiều ngày 1 đã cùng ông Nhu ẩn trú và tính kế. Hầm hoàn thành ngày 28-10-1963 nằm phía sau dinh Gia Long, chiều dài 25 thước chạy từ cánh trái của dinh phía đường Pasteur đến cánh phải phía đường Công Lý. Hầm có hai cửa nhưng lại có năm lối dẫn xuống hầm. Một lối thông với phòng ngủ của Tổng Thống Diệm ở lầu hai, một lối khác ăn thông với căn phòng ông Nhu ở phía đường Pasteur. Bên trên hầm là sân cỏ sát sân quần vợt với hai trụ thông hơi có một cửa ra vào dành riêng cho lực lượng cận vệ. Cửa hầm bằng sắt dày. Hầm phân ra hai khu, một dành cho Tổng Thống Diệm, một dành cho ông Nhu. Về phía Tổng Thống Diệm hầm được ngăn ra thành ba phòng nhỏ: một phòng khách, một phòng ngủ và một phòng tắm.
Nhưng từ khi nổ súng. Tổng Thống Diệm xuống hầm thì tất cả bộ phận đầu não đều tập trung trong một căn phòng khách nhỏ hẹp của Tổng Thống Diệm với một chiếc bàn tròn, một chiếc ghế bành và một chiếc tràng kỷ. Ông Nhu đi đi lại lại phía trên hành lang sâu hút của chiếc hầm… Từ khi nổ súng, ông Nhu vẫn đi như thế, đầu cúi thấp, từng bước chậm chạp.
Buổi chiều nặng nề trôi qua. Tổng Thống Diệm chăm chú nghe lời nói của ông em: “Hừ hừ… Mỹ nó biểu làm thì làm… Mỹ nó cho mỗi đứa vài ngàn đô là xong”. Ông Nhu búng tàn thuốc, gương mặt nặng trĩu: “Đính, Mậu nó làm như rứa…”.
Tổng Thống Diệm lặng thinh. Khoảng 6 giờ ông già Ân mang xuống hầm một tô cháo gà để Tổng Thống Diệm lót lòng. Ông Tổng Thống từ chối với một cử chỉ uể oải, chán nản tột cùng. Cuối cùng cầm thìa múc cháo nhưng như không còn đủ sức nuốt cho hết… Ông nhìn mọi người rồi bảo ông già Ân: “Múc vài tô nữa cho anh em ăn với”. Nhưng đây là tô cháo cuối cùng của đầu bếp dinh Gia Long.
Khoảng 7giờ, ông Nhu nói với ông Diệm: “Thôi mình đi”. Tổng Thống quay lại hỏi: “Đi mô?”. Ông Nhu đáp nhát gừng: “Cứ đi rồi sẽ tính”. Tổng Thống đứng lên nói: “Đi thì đi…”, Tổng Thống Diệm sai ông già Ân lên lấy cặp da. Trung úy Sung thu xếp hành trang của ông Nhu.
Tổng Thống Diệm nói với các sĩ quan tùy viên cùng bác sĩ Đinh Xuân Ninh và Trung tá Kỳ Quan Liêm: “Đi một đứa thôi. Đi nhiều không nên”. Tất cả mọi người có mặt đều có vợ con, riêng Đỗ Thọ thì còn độc thân. Đại úy Đỗ Thọ tình nguyện đi theo Tổng Thống Đại úy Thọ quay lại Đại úy Hoàn: “Hoàn ở lại. Tao độc thân đi theo Tổng Thống nếu có chết cũng không sao”. Khi già Ân đem chiếc cặp xuống trao cho Tổng Thống mọi người đứng vây quanh Tổng Thống Diệm, nghẹn ngào. Tổng Thống Diệm trao chiếc cặp da cho Hoàn, đôi mắt ông vẫn lơ đãng xa vời. Đỗ Thọ đỡ chiếc cặp da bước theo Tổng Thống rời khỏi hầm dinh.
Chiếc xe loại Ford đậu sẵn ở sân cỏ. Tổng Thống Diệm bước lên xe theo sau là ông Nhu và Đại úy Bằng, Đại úy Đỗ Thọ ngồi băng trước cạnh tài xế Tổng Thống Diệm ngồi phía sau lưng tài xế và bên cạnh là ông Nhu. Xe rồ máy băng qua cửa nhỏ của dinh vào đường Pasteur rồi tiến vào sân sau tòa Đô chánh, sau đó rẽ qua đường Lê Thánh Tôn chạy ngang qua rạp Rex, rẽ tay phải theo ngã đường Lê Lợi thẳng ra Chợ Lớn, chạy dọc theo đại lộ Trần Hưng Đạo. Ông Cao Xuân Vỹ bỏ đi không tháp tùng Tổng Thống Diệm và khi xe sắp chuyển bánh ông Vỹ thấy ông Nhu và Tổng Thống Diệm ngồi trên sàn xe coi bộ thê lương quá nên ông vào dinh lấy tạm tấm đệm mút để Tổng Thống Diệm và ông Nhu ngồi tạm, nhưng khi mang nệm ra thì xe đã đi.
Trong dinh Gia Long lúc này chỉ còn duy nhất một mình ông Cao Xuân Vỹ là người có thẩm quyền quyết định. Ông không thể bỏ đi ngay vì phải ở lại đôn đốc một số công việc, nhất là lo việc ăn uống của anh em binh sĩ. Vì vậy, thay vì tháp tùng xe Tổng Thống Diệm, ông trở lại dinh gọi điện thoại cho Trung tá Phước hiện đang có mặt tại khu Đại thế giới, báo cho Trung tá Phước biết là có hai người khách sắp đến. Đồng thời ông Vỹ cũng chỉ thị cho Trung tá Phước nếu xe của hai vị khách tới nơi sẽ cho thay xe khác và chính Trung tá Phước phải tự lái xe đưa hai nhân vật này đến tạm trú tại nhà Mã Tuyên và đợi ông ở đó, ông Vỹ sẽ đến.
Trước sau, anh em Tổng Thống Diệm đã trở thành kẻ cô đơn trong cơn khói lửa, và phải lo liệu tất cả mọi chuyện. Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng cũng như Bộ trưởng Nội vụ không còn một liên lạc nào với vị lãnh tụ “anh minh” của họ.
Khoảng 9 giờ đêm hôm đó, Trung tá Phước đưa hai anh em Tổng Thống Diệm đến tạm trú tại nhà Mã Tuyên cùng với mấy tùy viên trên cùng một chiếc xe Land Rover. Sau khi ra một số chỉ thị cần thiết, Trung tá Phước trở về bản doanh của Thanh niên Cộng hòa (đặt tại khu thế giới). Từ lúc đó trên lầu hai nhà Mã Tuyên chỉ còn Tổng Thống Diệm, ông Nhu và Đại úy Thọ. Riêng Đại úy Bằng khi theo Tổng Thống Diệm đến Đại thế giới thì được Tổng Thống Diệm cho tự ý lo liệu. Một lát sau khi ông Cao Xuân Vỹ đến nhà Mã Tuyên trong ít phút sau đã thảo luận với hai anh em Tổng Thống Diệm và lãnh chỉ thị cuối cùng.
Ông Vỹ được lệnh trở về bản doanh của Thanh niên Cộng hòa để lo điều động mọi việc. Kể từ đó mọi việc liên lạc đều qua dường dây điện thoại. Ông Vỹ có trở lại khu Đại thế giới một lần nữa để bàn thảo kế hoạch và lãnh thêm chỉ thị mới. Đây là lần sau chót ông Vỹ gặp mặt Tổng Thống Diệm và vị lãnh tụ Thanh niên Cộng hòa. Vào khoảng 4 giờ sáng ngày 2 ông Cao Xuân Vỹ mất liên lạc với Tổng Thống Diệm và ông Nhu. Tổng Thống Diệm đến nhà Mã Tuyên là một sự tình cờ. Trước đó, ông Tổng Thống đã khước từ đề nghị đưa ông và ông Nhu vào một tu viện trong Chợ Lớn. Tổng Thống Diệm lắc đầu “Êm thì không nói làm chi. Nếu có sao sau này phiền lụy đến các cha”. Do đó mà ông Vỹ và Trung tá Phước bắt buộc phải tạm thời dùng nhà Mã Tuyên làm “Dinh Tổng Thống” cho qua đêm. Khi được Trung tá Phước báo tin, Mã Tuyên ra tận cửa đón chào anh em Tổng Thống Diệm. Từ 9 giờ tối chiếc xe Dodge trang bị máy truyền tin hoạt động không ngừng vì ở đây thu lượng tin tức của dinh Gia Long và thành Cộng Hòa cũng nhận chỉ thị của hai ông.
Ruột thịt
Được biết, theo kế hoạch đã bàn thảo, Tổng Thống Diệm và ông Nhu mỗi người sẽ đi theo một ngã và cố tránh để không lọt vào tay phe đảo chính. Ông Nhu sẽ cải trang như một thường dân lao động và tìm cách ra khỏi Đô thành rồi theo lộ trình nào an ninh nhất, ông sẽ lên Cao nguyên. Tổng Thống Diệm sẽ tạm lánh một nơi an toàn tại Sài Gòn. Sau đó, khi lên tới Cao nguyên, ông Nhu sẽ huy động lực lượng quân đội do tướng Nguyễn Khánh trực tiếp điều khiển và sẽ tiến về Sài Gòn phản công.
Về mặt chính trị, ông Nhu vẫn tin tưởng là ông đã nắm vững được cả “nội lực và ngoại diện” khả dĩ có thể giúp ông thắng thế không những đối với phe đảo chính mà kể cả Hoa Kỳ.
Ông Nhu đã trình bày cho Tổng Thống Diệm biết nếu phe tướng lãnh bắt được Tổng Thống, họ cũng không dám làm gì có thể nguy hại đến an ninh cá nhân của Tổng Thống Song chính ông Nhu cũng hiểu rằng nếu phe tướng lãnh bắt được ông, họ có thể thanh toán ông ngay không một chút ngần ngại. Hơn nữa, ông cũng biết rằng người Mỹ không ưa gì ông. Dù đã trình bày cặn kẽ “ai nên ở, ai nên đi” song Tổng Thống Diệm vẫn cương quyết không cho em mình ra đi. “Tôi ở đâu thì chú ở đó, chết thì chết cả hai”. Chính vì tình thương ruột thịt nồng thắm như vậy nên ông Nhu không thể cưỡng lại lời ông anh và ngược lại, Tổng Thống Diệm cũng không đành lòng để ông em ra đi một mình.
Cho đến sau này, giới thân cận nhất của Tổng Thống Diệm cũng không hiểu nổi, từ một nguyên nhân tâm lý nào đã khiến Tổng Thống Diệm tính sai như vậy khi ông cương quyết không để ông Nhu ra đi, và cũng khước từ luôn cả đề nghị để ông Nhu tự do định đoạt, còn Tổng Thống Diệm tạm thời lánh vào một tu viện.
Giờ thứ 25
Một người như Nguyễn Khánh, vẫn bị ông Nhu nghi ngờ và không mấy tin tưởng. Song trọn đêm ngày 1 rạng ngày 2, tướng Khánh đã biểu lộ trọn vẹn lòng trung thành đối với Tổng Thống Diệm và ông Nhu, cho nên không lấy làm lạ cho đến giờ phút cuối cùng khi biết được thành Cộng Hòa và dinh Gia Long bị hạ và mất hết liên lạc với Tổng Thống Diệm, tướng Khánh mới cam đành đánh công điện về ủng hộ quân đảo chính. Không những tướng Khánh đã xử sự như vậy mà nhiều tướng tá khác cũng giữ thái độ “chờ đợi” và chỉ đánh điện ủng hộ quân đảo chính khi biết chắc chắn chế độ đã sụp đổ. Nhiều đơn vị trưởng hoặc Tỉnh trưởng tuy được Đài Phát thanh nêu tên tuổi và ghi nhận là họ đã theo phe đảo chính song qua đường dây liên lạc với dinh Gia Long, họ vẫn cam kết trung thành, và sẵn sàng phản công chống lại phe đảo chính.
Tất nhiên sau khi đảo chính thành công Hội đồng Quân nhân đã đặc cách thăng thưởng cho nhiều tướng tá trong trường hợp kể trên. Và đó cũng là cái may cho ai vẫn giữ được lòng trung thành, đồng thời lại gặp vận “hên” do tình cờ của lịch sử.
Mỗi vị thăng thêm một lon, cũng như tướng Khánh được đặc ân thăng Trung tướng vì có công ơn đối với quân đảo chính…
Trong cuộc binh biến và thay chủ đổi ngôi nào mà không có những may rủi tình cờ cũng như oan khiên cừu hận.
Nếu tin là phận số do trời đã tiền định cho mỗi con người thì cái chết của hai anh em Tổng Thống Diệm cũng do phận số vậy. Có thể nói như vậy vì biến cố 1-11-1963, anh em ông Diệm có nhiều yếu tố chiến thắng khác hẳn với biến cố 11-11-1960 lúc ấy đã có nhiều yếu tố khả bại. Những yếu tố khả ứng này gồm những yếu tố bên trong và bên ngoài. Kể từ đầu tháng 10, mỗi ngày một thuận lợi cho chế độ Diệm, mặc dầu áp lực phía Mỹ rất nặng nề. Cũng chỉ vì quá chủ quan và tin tưởng vào những yếu tố bên trong và bên ngoài này nên ông Nhu đã khinh xuất và “chơi” một canh bài quá bạo gan. Trong 9 năm chế độ, khi còn được Mỹ ủng hộ, cơ quan CIA đã giúp cho Tổng Thống rất nhiều tin tức tình báo quan trọng. Bất cứ một âm mưu nào nhằm lật đổ chế độ mà CIA ủng hộ đều bị khám phá kịp thời… hoặc là chính CIA ra tay phá những âm mưu đó từ trong trứng nước. Song kể từ khi Đại tá Richarson (chỉ huy CIA tòa Đại sứ Mỹ) bị gọi về nước, ta có thể coi từ lúc đó, chính quyền Ngô Đình Diệm không còn trông cậy vào sự cộng tác của CIA (mặt nổi tòa Đại sứ Mỹ). Tuy vậy, Sài Gòn vẫn là trung tâm của nhiều tổ chức tình báo… Nhờ sự biến chuyển tốt đẹp về ngoại giao Pháp Việt đã giúp cho anh em Tổng Thống Diệm có một số “bàn tay bí mật” cung cấp những tin tức quan trọng nhất quan hệ đến sự sống còn của chế độ. Nhưng lịch sử vẫn có những cái bất ngờ xoay chuyển cả đại cuộc. Nào ai có thể tiên liệu được cái bất ngờ của lịch sử. Tổng Thống Diệm lưu lạc đến nhà Mã Tuyên, nào ông Nhu có thể ngờ sẽ xảy ra như vậy.
Cái bất ngờ, đã đưa người Hoa kiều Mã Tuyên đến một đoạn đường thê lương suốt ba năm.
Vậy Hoa kiều Mã Tuyên là người như thế nào? Sau đảo chính Mã Tuyên được tô vẽ như hùm xám ở Chợ Lớn với gia tài lên đến hàng tỷ bạc. Sự thực có như thế không?
Mã Tuyên là nhà giàu có. Song gia tài của ông so với những người Hoa kiều giàu có khác không thấm vào đâu. Đối với giới này Mã Tuyên mới chỉ thuộc vào hàng trung lưu. Mã Tuyên đã sẵn có uy tín trong giới Hoa kiều từ trước năm 1954. Vào khoảng 1957-1958, Mã Tuyên không những là bang trưởng mà còn là Chủ tịch của 11 bang Hoa kiều. Không phải chỉ ở Sài Gòn – Chợ Lớn mà trên toàn quốc, Mã Tuyên thường được người Hoa gọi là Kiều lãnh. Chỉ một chức vụ quan trọng này, Mã Tuyên đã có một đời sống dư giả, sung túc và quyền thế, mà tập thể Hoa kiều đã dành cho ông trong tư thế lãnh tụ của họ.
Vào khoảng năm 1959, Tổng Nha Cảnh sát Sài Gòn được mật báo Mã Tuyên là một tổ chức kinh tài của Trung cộng và có liên hệ đến những hoạt động của Cộng sản tại Chợ Lớn. Nguồn tin mật báo này xuất phát từ đám “mã thầu dậu” rnà cơ quan an ninh đã sử dụng một thiểu số trong đám đó làm mật báo viên. Do đó, Mã Tuyên bị mời lên Tổng Nha để điều tra. Vì vụ tố cáo này Mã Tuyên luôn luôn bị đám “mã thầu dậu” quấy rầy và cơ quan an ninh cũng nhân cơ hội đó gây cho ông ta không biết bao nhiêu phiền phức khác. Vào khoảng năm 1960, Đại sứ Trần văn Lắm gặp bác sĩ Tuyến có than thở là ông có mấy người bạn Hoa kiều bị công an quấy rầy không sao làm ăn nổi. Người thứ nhất là Hoa kiều Phú Lâm Anh chủ nhà hàng Mỹ Cảnh trước đây. Người thứ hai là Mã Tuyên, sống bằng nghề mại bản cho một ngân hàng. Đại sứ Trần văn Lắm quả quyết rằng hai người này không phải là cán bộ kinh tài của Trung cộng. Qua sự giới thiệu của ông Đại sứ Trần văn Lắm, bác sĩ Tuyến can thiệp ngay. Bác sĩ Tuyến cho gọi viên chánh sở cảnh sát đặc biệt đến để cho biết qua về hoàn cảnh của Mã Tuyên và Phú Lâm Anh.
Ông yêu cầu cảnh sát đặc biệt chấm dứt mọi phiền hà đối với hai Hoa kiều này. Có thể nói, từ đó Mã Tuyên mới có thể thảnh thơi làm ăn. Tuy bác sĩ Tuyến can thiệp cho Mã Tuyên song ông vẫn chưa hề gặp mặt Hoa kiều này. Riêng Phú Lâm Anh thì thỉnh thoảng ông Tuyến và Trần văn Lắm có ghé qua nhà hàng của y.
Năm 1961 trong cuộc vận động bầu cử Tổng Thống, bác sĩ Tuyến có mời một số bang trưởng Hoa kiều đến văn phòng của ông để nói chuyện về cuộc bầu cử và yêu cầu cái bang trưởng dùng uy tín để vận động cho hên danh Ngô Đình Diệm – Nguyễn Ngọc Thơ. Đây là lần đầu tiên Mã Tuyên được gặp bác sĩ Tuyến và chỉ một lần đó cho đến ngày đảo chính.
Khi Thanh niên Cộng hòa được thành lập, ông Cao Xuân Vỹ làm Phó tổng thủ lãnh Thanh niên Cộng hòa, Đô thành được trao cho Trung tá Phước (Phó đô trưởng Nội an) làm thủ lãnh, thì Mã Tuyên với tư cách đại diện của giới Hoa kiều Chợ Lớn nên đã được đề cử làm thủ lãnh của thanh niên Cộng hòa tại quận V.
Thân hình, khuôn mặt và đời sống ông ta tiêu biểu đầy đủ cho một dân Trung Hoa chính gốc. Ông có đến 4 vợ chính thức và trên 20 người con.
Mã Tuyên chưa hề gặp mặt ông Ngô Đình Nhu và kể cả Cao Xuân Vỹ, Phó tổng thủ lãnh của Mã Tuyên. Mã Tuyên chỉ quen biết Trung tá Phước mà thôi. Thanh niên Cộng hòa là đoàn thể duy nhất mà ông ta tham dự.
Ông ta cũng chỉ được Tổng Thống Diệm bắt tay vào những dịp Quốc khánh hay Tết Nguyên đán, khi cùng các phái đoàn Dân chính đến dinh chúc mừng Tổng Thống và riêng Mã Tuyên với cương vị đại diện Hoa kiều.
Buổi tối hôm 1-11 lần đầu tiên, gia đình Mã Tuyên được tiếp đón anh em Tổng Thống Diệm. Liên hệ giữa Hoa kiều Mã Tuyên và chế độ Tổng Thống Diệm trước sau chỉ đơn giản có thế.
Sau ngày đảo chính, Mã Tuyên bị bắt và được mô tả như tay kinh tài khét tiếng của chế độ Ngô Đình Diệm.
Ông ta còn bị tịch biên tài sản. Có điều đáng ghi nhận và cũng là điều đáng ca ngợi về tình đồng hương của giới Hoa kiều: Khi vật dụng gia sản của ông Mã Tuyên bị tịch thu và đem bán đấu giá, thì chính đồng hương của ông đã bỏ tiền túi ra mua và đem trả cho gia đình Mã Tuyên. Trong thời gian ông bị cầm tù thì chính đồng hương của ông đã tự động đóng góp kẻ ít người nhiều chu cấp cho vợ con ông. Đó cũng là số phận của mỗi con người. Giả thử nếu anh em Tổng Thống Diệm không vào nhà Mã Tuyên ẩn náu một đêm thì chắc chắn Mã Tuyên không bị tù đày trong bốn năm trường, từ khám Chí Hòa đến Côn Đảo và Biên Hòa. Những người thuộc chế độ cũ cùng bị giam với Mã Tuyên đều ghi nhận, Mã Tuyên bị oan ức, song không hề oán thán và vẫn một lòng tử tế như xưa.
Có thể nói, Mã Tuyên chỉ có một cái tội của kẻ gặp cơn tai bay vạ gió. Giả thử nếu Mã Tuyên cam tâm phản bội biết đâu ông ta không trở thành một trong những người hùng của đảo chính? Ông ta chỉ cần cho vợ con đi cấp báo với phe đảo chính, tất nhiên hai anh em ông Diệm sẽ không c̣n phương thế nào để chống đỡ và anh em ông tất đã bị phe đảo chính bắt ngay vào đêm 1-11. Song gia đình Mã Tuyên đã không cam tâm làm như vậy. Ngược lại đã tiếp đón Tổng Thống Diệm với tất cả lòng cung kính.
Đêm dài nhất
Mã Tuyên dành riêng một căn phòng trên lầu hai cho anh em Tổng Thống Diệm, và tự tay ông ta làm mọi việc cung phụng hai vị thượng khách. Mã Tuyên cho vợ con xuống hết nhà dưới, không một ai được lai vãng lên lầu và chính Mã Tuyên cũng chỉ đóng vai trò phục dịch. Từ lúc hai anh em ông Diệm đến đây cho đến khi qua nhà thờ Cha Tam, Mã Tuyên đã thức trắng đêm để túc trực phục dịch.
Tuy nhiên ông ta không được hay biết gì hơn, nghe gì hơn ngoài mấy câu thăm hỏi của Tổng Thống Diệm và ông Nhu. Vợ con Mã Tuyên cũng chỉ được một lần nhìn ra khuôn mặt và vóc dáng anh em Tổng Thống Diệm, cả nhà đều giữ yên lặng cung kính đầy kinh ngạc.
Mặc dầu súng nổ lớn trong khắp Đô thành, Mã Tuyên cũng chỉ cảm thấy mơ hồ một điều gì đó có lẽ quan hệ lắm đang xảy ra.
Đêm ấy, tự tay Mã Tuyên pha từng bình trà nóng, thứ hảo hạng và tự tay ông bưng từ dưới nhà lên lầu với một sĩ quan tùy viên đem vào phòng cho hai anh em ông Tổng Thống Đêm ấy gia đình Mã Tuyên hoàn toàn lặng lẽ trong không khí của sự trang nghiêm, vì trước mắt họ và trong lòng họ, họ đang được sống trong khung cảnh thần thoại của xứ Trung Hoa cổ: Trong dó một anh dân thường đang sống yên vui với gia đình bỗng có một vị Hoàng đế xa giá đến nhà, chủ nhân vừa ngơ ngác vừa run rẩy hoang mang trước một tình cờ như một phép mầu nhiệm hay đúng hơn như là một giấc mơ.
Giây phút cuối cùng
Ông Nhu đề nghị lần cuối với ông anh Tổng Thống: ông sẽ cải trang để trốn lên Vùng 2 với tướng Khánh còn Tổng Thống Diệm sẽ đi Vùng 4, hai người đi hai ngả cho tiện bề lo toan. Tổng Thống Diệm không bằng lòng. Theo Đỗ Thọ ông Nhu thấy Tổng Thống Diệm có vẻ giận dỗi nên ông… bỏ ra ngoài một lúc lâu mới trở vào phòng và đành theo quyết định của ông anh. Mọi liên lạc đã đứt đoạn. Người nắm kế hoạch để đưa hai ông đi là Trung tá Phước thì ông Phước đã bị phe đảo chính bắt giữ. Gần sáng, Tổng Thống Diệm và ông Nhu bất thần thay quần áo. Hai ông đều bận Complet và rời nhà Mã Tuyên lúc 5 giờ. Tự tay Đại úy Thọ lái xe Land Rover đưa hai ông đến nhà thờ Cha Tam.
Hơn một giờ sau, dinh Gia Long thất thủ. Trung tá Phạm Ngọc Thảo dò hỏi biết hai ông vào Chợ Lớn và trú ẩn tại nhà Mã Tuyên thế là ông Thảo tức tốc đem quân đi đón hai ông. Tất cả thành bại đối với nhóm ông Thảo là ở chỗ này: Bắt được Tổng Thống Diệm và ông Nhu. Theo kế hoạch của nhóm Trung tá Thảo thì phải làm thế nào “nắm” được Tổng Thống Diệm để làm điều kiện áp đảo một số phe nhóm khác và lật ngược thế cờ. Đó cũng là lý do dễ hiểu tại sao mà tướng Khiêm vẫn không tiết lộ tin này cho Hội đồng tướng lãnh biết. Có lẽ tướng Khiêm muốn để ông Diệm và ông Nhu có thì giờ lo toan để thoát cơn hiểm nghèo.
Theo kế hoạch dự trù thì đảo chính thành công phải “nắm” được Tổng Thống Diệm và để ông Nhu xuất ngoại. Lúc ấy Tổng Thống Diệm sẽ trở thành chính nghĩa của nhóm ông Thảo và nhóm ông Thảo sẽ dựa vào uy tín của Tổng Thống Diệm để nắm quyền chủ động trong Hội Đồng tướng lãnh, nhờ vậy nhóm các tướng Đôn, Kim, Xuân, Minh sẽ không thể thao túng được. Theo Trung tá Vọng, khi vào nhà Mã Tuyên không gặp được Tổng Thống Diệm cũng như không biết tung tích hai ông ở đâu, Trung tá Thảo biến sắc rồi thở dài nói với Vọng:
- Thôi nguy rồi Vọng ơi!
Phe của Trung tá Thảo không có uy thế nhưng có quân. Phe các tướng Đôn, Kim, Xuân, Minh lại không có quân nhưng lại có uy thế, lại được Đại sứ Cabot Lodge hết lòng tán trợ. Theo kế hoạch của nhóm Trung tá Thảo thì với tình trạng mâu thuẫn và xáo trộn trầm trọng kể từ tháng 5-1963 miền Nam không thoát được cuộc đảo chính quân sự để lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Nhưng vấn đề quan trọng là phe nào, tướng tá nào cầm đầu cuộc đảo chính? Trung tá Thảo vạch ra kế hoạch cuộc “đảo chính hớt ngọn”. Nghĩa là nắm vững các đường dây liên lạc với các đơn vị cấp tiểu đoàn và trung đoàn từ nhảy dù đến thủy quân lục chiến, sư đoàn 5 và sư đoàn 7. Nếu phe nào âm mưu đảo chính và có uy thế móc nối thì sáp vô nhưng sẽ ra tay hành động vào phút chót để nắm thế chủ động. Trung tá Thảo chủ trương đảo chính để hòa giải các mâu thuẫn quân bình chính trị và hòa giải các mầm mống chống đối chia rẽ, nhưng vẫn duy trì được chế độ, bảo vệ sự… liên tục chính sách quốc gia và đồng thời tiếp tục phát triển và củng cố ấp chiến lược. Nhóm Trung tá Thảo chủ trương phải giữ Tổng Thống Diệm làm một cái thế tinh thần và tiêu biểu cho quyền lực quốc gia. Ông Nhu tạm lánh mặt ra ngoại quốc để giảm áp lực của Mỹ và đồng thời hòa giải với Phật giáo cùng các phe nhóm chống đối… Với một chủ trương như vậy, sự hiện diện của Tổng Thống Diệm là một điều tối cần cho nhóm ông Thảo, nhưng Tổng Thống Diệm và ông Nhu đã ra đi mất rồi.
Trong nhật ký, Đỗ Thọ, người tùy viên trẻ tuổi trung tín ấy đã ghi lại buổi bình minh cuối cùng của anh em Tổng Thống Diệm như sau:
“Trong nhà thờ đèn nến đã sáng trưng. Có lẽ buổi lễ đầu sắp đến, Tổng Thống Diệm và ông Nhu quỳ xuống ở hàng ghế đầu. Tôi đứng đằng sau lưng như thường tình của một sĩ quan tùy viên trong các lễ Thiên Chúa giáo mà Tổng Thống tham dự.
Tôi nghe được tiếng cầu kinh của Tổng Thống và ông Ngô Đình Nhu hợp lại. Nếu tôi không lầm thì Tổng Thống và ông Ngô Đình Nhu khởi đầu kinh xưng tội. Như đã viết, tôi là một Phật tử nên không thông thạo về kinh và các lễ của Thiên Chúa giáo.
Tổng Thống và ông Ngô Đình Nhu lễ sáng khoảng ngoài 15 phút, có lẽ đây là một buổi lễ sáng lâu nhất của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đối với thường nhật ở dinh Gia Long. Và đây cũng là buổi lễ đầu bất ngờ đối với ông Ngô Đình Nhu trừ những ngày chủ nhật.
Khi Tổng Thống Diệm đứng dậy, ông Nhu uể oải đứng dậy theo. Lúc bấy giờ ngoài đường đã có tiếng động của khu vực buôn bán.
Người đi lễ nhà thờ đã đến, tôi thấy vài người đi vào sân, có lẽ nhiều hơn nữa, nhưng vì cánh cửa khép hờ nên tôi không trông được bao quát.
Ông Nhu tiến vào sát Tổng Thống Diệm rồi nói “mình vào gặp cha tí xíu” không đợi Tổng Thống Diệm trả lời, ông Ngô Đình Nhu đã bước về phía bàn thờ lễ, Tổng Thống Diệm và tôi chậm rãi đi theo.
Khi vào gặp vị lãnh đạo tinh thần tôi đứng ngoài nên nghe được câu mất câu còn. Không biết Tổng Thống Diệm và ông Ngô Đình Nhu nói những gì. Tói được nghe giọng nói của vị lãnh đạo tinh thần, đại khái khuyên Tổng Thống lưu lại ngôi nhà thờ này. An ninh bí mật hoàn toàn bảo đảm.
Cả ba người nói chuyện khá lâu và có lẽ buổi lễ sớm phải bắt đầu nên vị lãnh đạo tinh thần đi ra để làm chủ lễ. Tổng thốg Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu đi theo và cũng xem lễ thêm.
Trong nhà thờ đã có một số người dự lễ. Phần nhiều là những người già cả, người Hoa kiều. Tôi đoán chắc là họ không để ý đến Tổng Thống Diệm và ông Ngô Đình Nhu. Vì họ không thể ngờ được Tổng Thống Diệm lánh nạn đảo chính đến đây.
Nếu hôm ấy tôi mặc quần áo nhà binh, thì người ta có thể ước đoán. Tuy nhiên tôi bắt gặp được một bộ mặt của một người đàn ông đang ngồi về phía góc trái của nhà thờ. Ông ta không già lắm. Người đàn ông này nhìn chăm chú về phía Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Có lẽ người này ngờ ngợ tự hỏi: “Đó có phải Tổng Thống Ngô Đình Diệm không?” và người đàn ông này tôi đã bắt gặp khi ông ta đứng nhìn Tổng Thống Ngô Đình Diệm sửa soạn lên M.113.
Theo tôi nghĩ buổi lễ hôm đó có vẻ rút ngắn, vị lãnh đạo tinh thần trông hấp tấp, lo lắng. Vì ông ta đang đứng trước cảnh biến động của Tổng Thống trốn chạy. Vả lại vị Tổng Thống còn là người Thiên Chúa giáo, một con chiên ngoan đạo.
Buổi lễ sáng chấm dứt bình thản. Tôi đã nghe những lời thì thầm của một đám người đi lễ. Họ dừng lại ở cửa chính nhìn Tổng Thống Diệm và ông Nhu lẫn tôi đang đứng nhìn mặt cha xứ. Trong những người này có cả người đàn ông mà tôi đã nói ở trên.
Tôi viết như vậy để nói lên rằng một số con chiên ở xứ đạo cha Tam đã nhận diện được Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một điều bất ngờ ngạc nhiên nhất.
Tổng Thống Diệm, ông Nhu và tôi theo chân cha xứ vào bên trong. Tồng thống nói với cha xứ là đến đây quá đường đột lụy phiền cha. Nhưng sẽ đi nữa chứ không lưu lại làm liên lụy, khổ sở cho nhà thờ, cha xứ trả lời là: “Tổng Thống đừng nghĩ đến điều đó. Nhà thờ là nước Chúa ai dám động đến cũng được đâu riêng cho Tổng Thống. Tổng Thống và ông Cố vấn yên tâm ở lại đây, ra đi lắm phần nguy hiểm”.
Ông Nhu ngồi lặng yên thật lâu rồi nói: “Thưa cha, Tổng Thống nói vậy nhưng chúng con không đi đâu nữa. Dầu sao cũng liên lạc với các tướng lãnh để bàn về việc ra đi của Tổng Thống cho đúng với nghi lễ quốc gia”.
Sau lời nói của ông Nhu, tôi nghĩ ngay đến cuộc dàn xếp giữa Tổng Thống Diệm và Hội Đồng tướng lãnh sẽ xảy ra.
Nhưng hiện nay Tổng Thống Diệm đang ở trong thế yếu chắc rằng tướng lãnh sẽ ép Tổng Thống Diệm với nhiều điều kiện.
Sau vài tách trà ở nhà xứ, bên ngoài trời sáng tỏ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu quyết đinh liên lạc với Hội đồng tướng lãnh tại Tổng tham mưu. Tổng Thống Diệm ra lệnh cho tôi lấy điện thoại nhà xứ gọi về Tổng tham mưu và cố gắng gặp cho được tướng Trần Thiện Khiêm.
Tôi cầm điện thoại gọi ngay về Tổng tham mưu. Bên kia đầu dây xưng danh là Đại tá Đỗ Mậu. Tôi nói ngay: “Thọ đây thưa chú”. Đại tá Đỗ Mậu hỏi: “Chú mày ở đâu đó? Ông Tổng Thống đi đâu rồi”. Tôi đáp lại: “Tổng Thống muốn nói chuyện với tướng lãnh”. Đại tá Đỗ Mậu trả lời: “Các tướng chưa ai đến, chỉ có tướng Khiêm thường trực ở đây, chú mày muốn nói gì thì nói”.
Tôi đợi trong nháy mắt thì nghe tiếng của tướng Trần Thiện Khiêm.
Tôi trình bày ngay là tôi được lệnh Tổng Thống liên lạc với Hội đồng tướng lãnh và hiện Tổng Thống đang ở nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn. Hội đồng tướng lãnh cử đại diện đem xe ra rước Tổng Thống về Bộ Tổng tham mưu.
Tướng Trần Thiện Khiêm đáp: “Được rồi, qua sẽ trình lên Trung tướng Chủ tịch. Nói với Tổng Thống yên tâm sẽ có tướng lãnh xuống”.
Tôi gác ống nghe rồi trình lại với Tổng Thống Ngô Đình Diệm là đã nói chuyện với tướng Trần Thiện Khiêm và ông ta sẽ cho đại diện tướng lãnh xuống đây.
Tổng Thống Ngô Dình Diệm và ông Ngô Đình Nhu cùng cha xứ yên lặng không ai muốn nói gì cả và giờ phút đợi chờ bắt đầu.
Từ giờ phút đó một âm thanh động cơ nào chuyển động bên ngoài cũng làm khuấy động tinh thầm tôi”.
(Trích trong nhật ký Đỗ Thọ trang 260-265 Hòa Bình xuất bản năm 1970).
Sau này Linh mục Jean đã tiết lộ, Linh mục tìm mọi cách thuyết phục anh em Tổng Thống Diệm không nên gặp các tướng lãnh nhưng Tổng Thống Diệm nhất định từ chối.
Linh mục Jean: “Tổng Thống và ông Cố vấn không nên e ngại, tôi sẽ làm tất cả khả năng của tôi. Tổng Thống và ông Cố vấn ra đi lúc này vô cùng nguy hiểm”.
Tổng Thống Diệm: “Cảm ơn Cha, tôi thấy không có gì nguy hiểm cả. Cá nhân tôi, tôi dâng trọn cho Chúa và Mẹ Maria nhưng tôi vẫn còn là Nguyên thủ quốc gia, tôi còn trách nhiệm với dân”.
Linh mục Jean: “Xin Tổng Thống và ông Cố vấn nghĩ lại. Chính tôi sẽ đưa Tổng Thống và ông Cố vấn đến một nơi an toàn nhất”.
Linh mục Jean có đề nghị Tổng Thống Diệm và ông Cố vấn Nhu nếu không muốn ty nạn trong tu viện hoặc nhà thờ thì Cha Jean sẽ tìm cách đưa hai ông đến tỵ nạn tại Tòa Đại sứ Pháp hoặc Đại sứ Trung Hoa.
Tổng Thống Diệm từ chối lần cuối cùng. “Xin cảm ơn Cha, tôi không có tội gì với dân và quốc gia này, tôi thấy không có lý do gì phải lẩn tránh”.
Trong khi đó, tại Bộ Tổng tham mưu, khi nhận được tin hai anh em ông Diệm đang ở nhà thờ Cha Tam thì nhóm tướng Đôn hết sức vui mừng nhưng cũng vô cùng lo ngại. Phải làm thế nào bây giờ?
Nhổ cỏ tận gốc
Thiếu tướng Đỗ Mậu cho biết là quyết định thanh toán ngay hai anh em ông Diệm không phải do toàn thể Hội đồng Quân nhân và riêng tướng Mậu cũng như tướng Khiêm, tướng Đôn chỉ tán đồng giải pháp đẹp nhất là cho hai ông ra ngoại quốc. Riêng tướng Đôn đã cho sửa soạn căn phòng cạnh Văn phòng Tổng tham mưu trưởng dể hai ông nghỉ tạm. Tuy nhiên, ngay từ sáng 1-11, Hội đồng này đã phân hóa và nghi ngờ nhau, vì không thể biết ai thực tâm với ai. Tuy nhiên, có bốn tướng lãnh tạm đoàn kết với nhau hơn cả, đó là các tướng Kim, Minh, Xuân, Đôn, tướng Đính còn bị chôn chân ở trại Lê văn Duyệt, để điều động các cuộc hành quân. Tuy nhiên không có sự hiện diện của tướng Đính ở Bộ Tổng tham mưu quả là một điều rất hay cho phe đảo chính, vì tướng Đính vốn ăn nói bạt mạng. Chính điều này đã làm cho tướng lãnh “ngán” ông Đính. Cho nên tướng Đính đã không được mời tham dự vào cuộc biểu quyết cho số phận anh em Tổng Thống Diệm. Nói là cuộc biểu quyết thì không đúng, đây chỉ là những ý kiến “rỉ rả”, không một tướng lãnh nào dám công khai đưa ra đề nghị.
Trước hết, Thiếu tướng Lễ cho rằng “tận gốc”. Ông còn kề cà dẫn chứng một số thí dụ trong truyện Tầu. Ý kiến trên được tướng Xuân tán đồng.
Tướng Kim dè dặt mặc dầu ông là một tướng lãnh bị chế độ Ngô Đình Diệm “bỏ quên” trong 9 năm. Các tướng lãnh khác không công khai tỏ thái độ. Tướng Dương văn Minh vẫn im lặng một cách khó hiểu. Sau một hồi bàn bạc rỉ rả và cuộc đối thoại của tướng Nguyễn Ngọc Lễ, tướng Xuân, tướng Dương văn Minh… “tiêu lệnh” nhổ cỏ nhổ tận gốc đã được quyết định với đa số 7/9 (2/9 không tán thành là phiếu của tướng Đỗ Mậu và tướng Trần Thiện Khiêm? Và đây cũng chỉ là lá phiếu tùy hứng mà thôi). Một quyết định hết sức mơ hồ cho nên chính người đồng ý giải pháp này cũng không hiểu giải pháp được thi hành như thế nào? Sẽ bắt ông Diệm, ông Nhu rồi đem ra tòa xử hay đem ra ngoại quốc? Song không ai nói lên thắc mắc của mình cả. Hội đồng quân nhân vẫn bao trùm một không khí nghi kỵ và đề phòng lẫn nhau. Vị tướng lãnh kể trên cho biết rằng kể cả tướng Dương văn Minh với tư cách Chủ tịch Hội đồng quân nhân vẫn không dám đơn phương quyết định hoặc thi hành quyết định của Hội đồng quân nhân mặc dù với tư thế của ông, ông có toàn quyền quyết định. Song, tướng Minh đã không thực thi quyền hành tối thượng đó và có thể nói việc gì ông cũng phải tham khảo ý kiến Đại sứ Mỹ. Nếu ông Lodge quyết tâm bảo vệ sinh mạng cho hai anh em Tổng Thống Diệm thì sự việc đã khác. Thái độ của Lodge lúc đó rất lờ mờ với luận cứ “không can thiệp đến nội bộ Việt Nam” (?) Thái độ của ông Lodge trái hẳn với thái độ của tướng Harkins. Ngay từ khi ông Lodge nhận chức tại Việt Nam, mối bất hòa giữa Lodge, Harkins càng ngày càng rõ rệt. Harkins có cảm tình với ông Nhu hơn là Tổng Thống Diệm, tướng Harkins đã dùng uy tín của ông ta đối với tướng Đôn để làm cách nào phe tướng lãnh bảo vệ tính mạng cho hai anh em Tổng Thống Diệm.
Đại sứ Lodge không tỏ thái độ rõ rệt. Tướng Minh thì im lặng một cách khó hiểu, trong khi đó lại có một số tướng lãnh khác chủ trương thanh toán ngay hai anh em ông Diệm và sẽ coi như “sự đã rồi” đối với người Mỹ, và đối với quốc dân sẽ tìm cách ngụy tạo dư luận. Mọi việc đâu sẽ vào đấy miễn sao hai anh em ông Diệm “vắng mặt” vĩnh viễn. Mấy tướng lãnh này quan niệm đơn giản như vậy. Kể từ sáng 2-11 phe đảo chính coi như đã làm chủ tình hình. Sự phân hóa lại càng trở nên rõ rệt với nhiều phe nhóm: Phe mạnh với mặc cảm tự tôn cho rằng mình chính là thành phần chủ chốt, có công đầu đối với “cách mạng”. Phe này gồm tướng Đôn, Đính, Minh, Kim, Xuân. Phe “yếu” với mặc cảm chạy theo vào phút chót nên hoàn toàn thụ động và chờ đợi ân huệ của cách mạng. Phe ôn hòa gồm tướng Khiêm và tướng Mậu.
Tất nhiên là phe mạnh đã hoàn toàn khuynh loát, nhiều quyết định mật của phe này mà phe kia không được biết.
Cho nên đã quyết định “diệt thảo trừ căn” tuy có đặt thành vấn đề để thảo luận chung, nhưng cũng chỉ để thảo luận mà thôi. Quyết định tối hậu vẫn do nơi tướng Dương văn Minh. Người có nhiều ảnh hưởng đến tướng Minh về giao tế và chính trị, là tướng Kim. Người được tướng Minh tin cậy về mưu kế và phép thuật đối nội là tướng Xuân. Nếu tướng Đính hăng say thì sự hăng say đó chỉ có tính cách trình diễn với ảo tưởng anh hùng lãng mạn nào đó. Nhưng sự hăng say của tướng Xuân kể từ sáng 2-11 có tính cách đe dọa, vì ông muốn tỏ cho mọi người biết là ông quyết hệt và có thể ra tay làm được tất cả, đồng thời ông muốn có dịp cho mọi người thấy biện pháp cực mạnh sẽ như một lời cảnh cáo quyết hệt nhất để hiểu rằng “đừng có ai cựa quậy”. Có thể đó cũng là lý do khiến tướng Xuân tình nguyện đến nhà thờ Cha Tam đón hai anh em Tổng Thống Diệm?
“Je reste neutre” – Tôi trung lập
Cùng đi với ông Xuân, như trên đã viết, có Đại tá Dương Ngọc Lắm, Đại úy Nguyễn văn Nhung (sĩ quan tổng hợp và tùy viên của tướng Dương văn Minh từ năm 1955), Đại úy Phan Hòa Hiệp, Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa. Xét về khía cạnh “bất mãn” đối với chế độ của Tổng Thống Diệm, thì tướng Minh không có gì gọi là “bất mãn”… Nhưng sau cuộc đảo chính hụt 11-11-1960, tướng Minh không còn được chế độ tín nhiệm như xưa. Có lẽ bắt nguồn từ thái độ của ông đối với cuộc đảo chính đó ông tuyên bố với báo chí ngoại quốc “Je reste neutre” (Tôi trung lập. Báo J. E.O ngày 13-11-1960). Cho dù vậy hành động của tướng Minh đối với anh em Tổng Thống Diệm thật là khó hiểu. Nhưng tướng Xuân thì sự bất mãn có vẻ sâu xa hơn. Kể từ khi ông mất chức Giám đốc nha An nính quân đội ông Xuân vẫn cho rằng mình có công với chế độ trong vụ đánh dẹp Bình Xuyên, và chiến dịch bình định tại miền Đông Nam phần. Tuy không xuất thân từ một trường võ bị nào, ông Xuân chỉ là một công chức cao cấp trong ngành Mật thám liên bang (Surete – fédérale) sau được đồng hóa vào ngành an ninh quân đội với cấp bậc Đại tá. Tuy nhiên khi mất chức Giám đốc, ông vẫn được Tổng Thống Diệm cho giữ chức chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện Quang Trung cho đến ngày đảo chính. Trong ngành cảnh sát, tướng Xuân vẫn còn một số cộng sự viên cũ, thuộc giới già đã phục vụ trong ngành Mật thám liên bang đã lâu năm. Còn vài lý do “tế nhị” khác đã khiến tướng Xuân hăng hái nhất trong việc tình nguyện đi đón anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
…
Một số binh sĩ thiết giáp thấy ông Diệm, ông Nhu giằng co với hai sĩ quan vội nhảy ra khỏi xe và tiến lên bực thềm nhà thờ với những khẩu carbine đã lên đạn mũi súng chĩa thẳng về phía hai ông Diệm Nhu.
Tùy viên Đỗ Thọ toan nhảy tới trước đám quân nhân thiết giáp, ông muốn làm một hành động, nhưng rồi ông chùn bước. Đỗ Thọ biết rằng trong khung cảnh đằng đằng sát khí này, bất cứ một hành động chống đối nhỏ nhoi nào của ông cũng có thể mất mạng như chơi. Ông Diệm ông Nhu uy quyền như vậy mà đành chịu bất lực thì ông làm sao chống chọi được.
Sau khi trả lại khẩu rouleau ngắn này vào bao da, viên sĩ quan toan bắn nhìn ông Nhu ông Diệm gằn giọng :
- Chúng tôi mời quý vị lên xe. Giờ này, nơi đây không còn ai là Tổng Thống và Cố vấn nữa. Nếu quý vị từ chối, chúng tôi buộc lòng phải áp dụng những biện pháp cứng rắn.
Nói xong viên sĩ quan này đẩy nhẹ ông Diệm xuống sân nhà thờ. Ông Nhu bây giờ lại tỏ vẻ quyết liệt, ông xô đẩy viên sĩ quan và quát :
- Không được vô lễ với Tổng Thống
Biết tình thế không thể nào thay đổi được, ông Diệm nắm lấy vai áo ông Nhu :
- Thôi chú! Mình đi hè!
Ông chưa nói hết câu thì viên sĩ quan thứ hai đã đẩy mạnh ông Nhu xuống trước. Tổng Thống Diệm bước theo, tùy viên Đỗ Thọ và cha xứ đi theo hai người. Cửa chiếc thiết vận xa M113 được mở ra, bên trong nồi chảo và hành lý cá nhân của các chiến binh thiết giáp ngổn ngang. Khung cảnh chẳng có gì đã được thu dọn để đón vị Tổng Thống Rõ ràng đây là một cuộc “áp giải” một cách đột ngột thiếu chuẩn bị.
Ông Diệm và ông Nhu chùn bước. Cả hai đều hiểu rằng với một sự đón rước cứng rắn như vậy, hy vọng được đưa ra ngoại quốc của hai ông hết sức mong manh.
Đối với các tướng lãnh, uy quyền của hai ông chắc các ông cũng đã hiểu. Hiểu như vậy thì đã quá muộn. Trên mặt thềm của ngôi nhà thờ buồn tẻ này, người ta thấy khuôn mặt của tùy viên Đỗ Thọ rất thảm thương. Có lẽ ông đã hình dung được số phận sẽ dành cả cho hai anh em ông Diệm, Nhu. Trong giờ phút nặng nề này, chỉ có ông Diệm là còn giữ được sự bình tĩnh cần thiết, nên đã không một phản ứng nào mặc cho sự đưa đẩy của số phận.
Còn ông Nhu trông gương mặc hốc hác tiều tụy của một đêm thức trắng, đôi mắt ông long lên cơn giận khi thấy đám đông dân chúng đằng xa đang chỉ trỏ về phía mình. Như một con hổ sa cơ, ông muốn trút sự nóng giận cho bất kỳ một người nào, nhưng cuối cùng ông dằn được.
Bước chân cuối cùng
Khi ấy chiếc xe M113 đã nổ máy quay đầu ra phía cổng.
Thiếu tá Nghĩa thì chạy lăng xăng. Đại úy Nhung hai tay chống nạnh, mặt mày rất hung dữ, và thốt ra nhiều lời lỗ mãng tục tằn. Một sĩ quan khác cũng có mặt tại đây, và ông Nhu cũng đã từng biết mặt biết tên. Viên sĩ quan này là Đại úy Hiệp. Đại úy Hiệp cũng như Nhung đã thốt ra những lời lỗ mãng nặng nề. Tổng Thống Diệm vẫn làm ngơ, song ổng Nhu quay lại quắc mắt mắng Hiệp “Không được ăn nói và xử sự như vậy với Tổng Thống”.
Như cố ý lánh mặt, tướng Xuân vẫn ngồi ngoài xe đậu phía bên kia đường. Thiếu tá Nghĩa đã hộ tống anh em Tổng Thống Diệm đến tận cửa chiếc M113. Ông Nhu vẫn giằng co “Các anh để Tổng Thống đi xe nào? Sao lại đi xe này? Sao lại có thể thế này?”. Một Đại úy đẩy ông Nhu xô vào phía cửa sau.
Ông Nhu lảo đảo rồi đứng khựng lại. Ông lớn tiếng nặng lời với mấy sĩ quan đứng chung quanh ông và Tổng Thống Diệm. Theo ông già Khá Tổng Thống Diệm vẫn có vẻ từ tốn.
Trong nhật ký Đỗ Thọ có ghi lại như sau:
“Họ đẩy mạnh ông Nhu xuồng thềm nhà thờ. Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tôi và cha Jean theo sau. Trong khi đó trục máy của chiếc M113 buông thả cửa xe. Lính đảo chính áp dụng cứng rắn đẩy ông Nhu lên xe, ông Nhu cự nự quay lại nửa người và đưa Tổng Thống Diệm lên trước. Tôi chạy đến đưa chiếc cặp đa, chiếc ba tong cho Tổng Thống Nhưng Đại úy Nhung đã giật những món hàng này. Đồng thời họ không cho tôi được phép đến gần Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tôi đứng lại nhìn cửa sau chiếc M113 đóng lại. Tôi không thể ngờ đó là nơi an nghỉ cuối cùng của Tổng Thống Diệm trong quan tài bọc sắt. Tôi lên xe GMC về Bộ Tổng tham mưu”.
(Nhật ký Đỗ Thọ trang 267).
Trên lộ trình về Bộ Tổng tham mưu đột nhiên đến chỗ chắn xe lửa đường Hồng thập tự thì đoàn áp tải dừng lại. Báo Công Luận số 882 ra ngày 26-11-70 đã ghi lại:
“Giờ phút kết liễu cuộc đời của hai ông Diệm, Nhu xảy ra lúc đoàn “công voa” về đến cổng xe lửa đường Hồng Thập Tự. Đoàn công voa vừa tiến đến đây thì gặp lúc có một chiếc xe lửa chạy qua nên phải dừng lại.
Đại tá Lắm ngồi với Thiếu tướng Mai Hữu Xuân trong một chiếc xe Jeep chạy giữa đoàn, thấy đoàn xe bất thần ngừng lại, ông không biết chuyện gì nên đã hét vào máy truyền tin :
- Ai cho các anh ngừng lại?
Tiếng quân nhân trên chiếc xe thiết giáp đi đầu trả lời :
- Thưa Đại tá, kẹt xe lửa. Có một chuyến xe lửa sắp chạy qua, cổng rào đã kéo xuống.
Đại tá Lắm “à” một tiếng rồi tiếp tục nói chuyện với Thiếu tướng Xuân. Chừng vài phút sau, giữa tiếng chuyển động ầm ầm của chuyến xe lửa chạy qua ông mơ hồ nghe có nhiều tiếng súng nổ, nhưng hỏi phía trước không có một báo cáo nào cho ông biết có chuyện gì bất ngờ xảy ra.
Những tiếng súng nổ khô khan chen lẫn với tiếng động cơ ầm ĩ của chuyến xe lửa đi qua, đó là tiếng súng của Đại úy Nhung. Trong không khí nặng nề của đoàn “công voa” rước ông Diệm ông Nhu từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tồng Tham mưu, thừa cơ hội chiếc thiết vận xa chở ông Diệm ông Nhu dừng lại, Đại úy Nhung đã bất thần từ chiếc xe Jeep nhảy qua chiếc thiết vận xa. Khẩu rouleau ngắn nòng được rút ra khỏi vỏ và ông nhả đạn, sau đó dùng dao kết liễu cuộc đời hai ông Diệm, Nhu.
Hai nhân vật đầu não của chế độ nằm xuống. Vĩnh viễn nằm xuống, không có một phản ứng nhỏ nhoi nào. Cái chết này rất ít người được biết rõ ràng và chứng kiến.
Chính Đại tá Lắm, người chỉ huy trực tiếp đoàn “công voa” lúc bấy giờ không hay biết. Sau này, Đại tá Lắm đã nói với chúng tôi là ông không thể ngờ một việc như vậy đã xảy ra.
Sau khi chuyến xe lửa đã đi qua, đoàn công voa vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Đại tá Lắm lúc đó vẫn tin tưởng mọi việc được bình thường, là không có điều gì xảy ra. Cho đến khi đoàn xe về tới Bộ Tổng tham mưu, chiếc thiết vận xa M113 chở Tổng Thống Diệm và ông Cố vấn Nhu đột nhiên tách khỏi đoàn và chạy qua sân vận động quân đội”.
“C’est comme ça”
Đoàn xe dừng ngay ở sân cờ, Đại úy Nhung từ trên chiếc M113 lẹ chân nhảy xuống trước. Lúc ấy Trung tướng Chủ tịch Hội đồng Quân nhân đang đứng trên bao lơn. Nhung chạy theo sau tướng Xuân tiến lên thềm tam cấp của Bộ Tổng tham mưu. Tướng Minh từ trên cao giơ hai tay, cử chỉ giống như tướng De Gaulle giơ tay lên biểu lộ sự chiến thắng để chào mừng quốc dân. Khi Đại úy Nhung cùng tướng Xuân bước lên bậc thềm Bộ Tổng tham mưu, một tướng lãnh trông thấy tay áo Nhung dính đầy máu. Ông hất hàm hỏi tướng Xuân “sao vậy” thì tướng Xuân nhún vai và chỉ đáp có vỏn vẹn “C’est comme ça” rồi ông và Nhung lên thẳng lầu để báo cáo tướng Minh công việc mà họ vừa hoàn thành. Mấy tướng lãnh thở dài, quay lưng lên lầu. Một vài tướng lãnh khác và mấy Đại tá kéo nhau xuống sân để coi tử thi. Khi đến nơi, mấy ông đứng khựng lại, rồi ở thế “nghiêm” giơ tay chào từ biệt anh em Tổng Thống Diệm. Thiếu tướng Đỗ Mậu vùng vằng nói lớn “Các anh phải chịu trách nhiệm với lịch sử”… Tướng Dương văn Minh lạnh lùng khẽ nhún vai không nói một câu. Tướng Khiêm sa sầm nét mặt, hiện rõ sự đau thương. Một tướng lãnh khác vào phòng của Tổng tham mưu trưởng rủ Đại tá Lu Coner ra coi xác chết hai anh em “Diệm Nhu”. Lu Coner lắc đầu: “Tôi ra sao được, người ta sẽ có lý do cho là người Mỹ có dính dáng vô”.
Xác của hai anh em Tổng Thống Diệm được khiêng xuống đặt ngay trên nền đất của sân cờ. Hai anh em ông Diệm nằm chỏng trơ như vậy. Miệng ông Nhu há hốc, mắt nhắm, máu ở miệng trào ra dính hai bên mép và cổ, máu đã trở thành đen. Trời hôm ấy không nắng lắm và nhiều mây, từ lúc ấy sân Bộ Tổng tham mưu trở nên vắng lặng không một ai được lai vãng trừ một số tướng tá và một số người có phận sự. Người hạ sĩ quan trên chiếc M113 trước khi lên xe rời khỏi sân cờ, ông ta rút chiếc khăn mùi xoa trong túi, phủ lên mặt Tổng Thống Diệm. Hai thi thể nằm chơ vơ như thế khá lâu vì Hội đồng Quân nhân chưa có một quyết định nào. Từ cổng Bộ Tổng tham mưu đã được lệnh canh chừng nghiêm mật nhất là đề phòng các ký giả ngoại quốc.
Tuy nhiên sau đấy không đầy 1 giờ ngoại giao đoàn cũng như báo chí ngoại quốc tại Sài Gòn đều đã nhận được đầy đủ tin tức về cái chết của hai anh em ông Diệm. Ai giết? Tại sao giết?
Theo ký giả Robert Shaplen (tác giả cuốn The Lost Revolution) thì có một luận cứ tin được là Nhung đã ra tay hạ sát theo lệnh của tướng Dương văn Minh. Song rõ rệt nhất là những viên đạn đó đã được chế tạo tại Hoa Kỳ. Nếu Đại úy Nhung cầm súng nảy cò thì ông ta cũng là người thi hành lệnh của thượng cấp. Một Đại úy như Nhung dù là sĩ quan tùy viên của Chủ tịch Hội đồng Quân nhân, ông ta cũng chưa thể “điên” đến độ tự mình bắn hai anh em Tổng Thống Diệm. Điều này thật giản đơn và rõ rệt. Và những viên đạn này chỉ là kết quả của một âm mưu đã được sửa soạn từ tháng 5-1963 và tiến hành rất tinh tế, vừa có nghệ thuật, thứ nghệ thuật đảo chính mà Đại sứ Cabot Lodge rất am tường. Những viên đạn kết liễu cuộc đời hai anh em ông Diệm và chế độ của ông không phải là những viên đạn đồng đơn giản mang dấu hiệu USA – Những viên đạn đã được đúc rất công phu từ những trục John Kennedy – Cabot Lodge, Cabot Lodge – Hilsman, CIA Smith – Cabot Lodge và cuối cùng Cabot Lodge đại diện cho những cái trục này để giao tiếp với một số trục bản xứ. Có thể mô tả: Cabot Lodge – tướng Khiêm qua trung gian Harkins và Tướng Đôn – Harkins và tướng Kim, Xuân, Minh – Cabot Lodge qua trung gian Smith… Cuộc đảo chính được châm ngòi phải kể đến ngôi thứ nhất Đôn – Harkins. Vì tướng Đôn với tư cách Tổng tham mưu trưởng nên ông có dịp giao tiếp hàng ngày với các tướng tá Mỹ. Một số tướng tá này trở thành trung gian giữa Cabot Lodge – Đôn và một số tướng lãnh khác.
Đại sứ Cabot Lodge và những người Hoa Kỳ có hay biết gì trước giải pháp “nhổ cỏ tận gốc” không?
Sự thực, thì khi tiếng súng đảo chính bùng nổ, Đại sứ Cabot Lodge đã túc trực tại văn phòng của ông, và theo dõi thường xuyên tin tức “cách mạng”.
Tòa Đại sứ Hoa Kỳ và các cơ sở liên hệ như USA, AID sẽ mở rộng cánh cửa để đón tiếp các phần tử thuộc phe đảo chính khi sự mưu đồ bất thành.
Chết chưa phải là hết
Khi xác của hai anh em Tổng Thống Diệm nằm chơ vơ dưới sân thì các tướng trong Hội đồng quân nhân bắt đầu ngồi vào bàn thảo luận. Theo tướng Đỗ Mậu, không khí lúc ban đầu thật nặng nề, khó thở. Nhiều ông tướng chỉ cúi đầu không nói một câu. Tướng Mậu mô tả: “Tôi theo Tổng Thống Diệm từ năm 18 tuổi bao nhiêu tình cảm sâu xa giữa tình thầy trò… Thấy xác hai ông tôi không còn khóc được, đau quá – đau đến cùng độ”.
Vấn đề cấp thiết lúc ấy là làm thế nào biện minh về cái chết của hai anh em Tổng Thống Diệm đối với bang giao đoàn, dư luận quốc tế và quốc nội. Có lẽ tướng Minh cho đến lúc đó mới nghĩ đến những hậu quả mà ông đã không lường trước. Riêng tướng Kim là người hiểu rõ uy tín của hai anh em ông Diệm trong giới ngoại giao đoàn nhất là tòa Khâm sứ và Đại sứ Anh, dù cách nào Đại sứ Lodge cũng phải kiêng nể.
Tướng Khiêm cũng như tướng Kim là người đã lượng tính trước về uy tín ảnh hưởng của Tổng Thống Diệm trong số hai triệu tín đồ Thiên Chúa giáo. Từ những lượng tính về hậu quả qua nhiều phía do cái chết này sẽ tạo ra và có thể lật ngược thế cờ hay nếu không thì Hội đồng Quân nhân cũng sẽ gặp nhiều khó khăn lớn lao. Do đó Hội đồng Quân nhân hội họp trong một không khí dao động bế tắc, đến lúc này mấy tướng “chủ động” trong việc “thanh toán nhanh, thanh toán lẹ” mới ngỡ ngàng không hiểu nỗi giết một Tổng Thống lại gặp nhiều rắc rối, lôi thôi đến như thế. Mặt khác tướng Đính đã làm cho mấy ông trong Hội đồng càng thêm bối rối dao động vì tướng Đính “la hét, chửi thề” tùm lum – “Bây giờ biết làm thế nào”. Đường dây điện thoại giữa Hội đồng Quân nhân cách mạng và Đại sứ Cabot Lodge lại hoạt động liên miên.
Trong khi đó, xác hai anh em Tổng Thống Diệm được dời về Bộ chỉ huy thiết giáp trong vòng thành Bộ Tổng tham mưu. Trên xe có một viên y sĩ Đại úy thuộc bệnh xá Bộ Tổng tham mưu. Xác không phải chỉ có vết đạn trên đầu mà còn nhiều vết đâm trên ngực. “Có lẽ vì chiếc xe Hồng thập tự đi lắc mạnh nên tôi (lời hạ sĩ Cam) thấy đầu của Tổng Thống Diệm nằm trên băng ca cứ lắc lư trông dễ sợ, máu đỏ tươi chảy phọt ra hai bên mép, mặc dầu ông đã chết lạnh khô. Máu ở trên tóc dính bết đổi màu và đã se thâm lại”.
Cùng lúc đó tướng Đính đưa ra điều kiện: Một là phải chôn cất đàng hoàng, hai là phải làm thông cáo như thế nào nhằm trấn an dư luận. Ông Đính nói: “Chết cha tôi rồi… rồi phải ăn nói ra sao đây”.
Ngay sau khi được tin anh em Tổng Thống Diệm bị thảm sát, tòa Đại sứ Pháp có thông cáo ngay cho Khâm sứ Tòa thánh tại Sài Gòn (vị Khâm sứ lúc ấy là Niên trưởng ngoại giao đoàn). Một viên chức cao cấp của tòa Khâm sứ đã điện thoại hỏi Đại sứ Cabot Lodge, không gặp. Nhân viên Tam vụ trả lời rằng Hội đồng Quân nhân cho biết hai anh em Tổng Thống Diệm đã tự sát. Vì đó là trọng tội đối với Thượng đế và sẽ mất hết mọi ân phước, nên một người công giáo như ông Diệm thì chuyện này không thể xảy ra.
Một lát sau, viên Tham vụ này điện thoại cho tòa Khâm sứ báo là ông Đại sứ Cabot Lodge cho biết anh em ông Diệm đã chết như trường hợp ngộ nạn. Một Đại úy vô kỷ luật đã bắn ông Diệm. Sau đó Hội đồng quân nhân ra thông cáo là anh em ông Diệm đã tự sát.
Sau đây chúng tôi ghi lại bản phúc trình của giới hữu trách quân đội mang tên “Tài liệu sơ lược về hai ông Ngô Dình Diệm và Ngô Đình Nhu sau khi chết ngày 2-11-1963 lúc 11g15 đến ngày an táng 8-11-1963 lúc 21g”. Nguyên văn:
TÀI LIỆU SƠ LƯỢC
VỀ HAI ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NGÔ ĐÌNH NHU
SAU KHI CHẾT NGÀY 2-11-1963 lúc 11G15 đến NGÀY AN TÁNG 8-11-1963 lúc 21G00.
I. Ngày 2-11-1963 vào lúc 11g15, đoàn xe hộ tống đưa hai xác của ông NGÔ ĐìNH DIỆM và ông NGÔ ĐÌNH NHU nằm trên hai chiếc brancard để trong chiếc xe M113 vào Bộ Tổng tham mưu đặt tại sân bộ chỉ huy thiết giáp binh trại Trần Hưng Đạo từ 11g15 đến 17g00. Y sĩ trưởng bệnh xá Tổng hành dinh Tổng tham mưu đến khám nghiệm tử thi của hai ông Diệm và Nhu và thành lập hồ sơ khai tử do Phòng Tổng quản trị Tổng tham mưu phụ trách.
Trong khoảng thời gian kể trên chờ ông bà Trần Trung Dung, cựu Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng, cư ngụ tại số 123 đường Đoàn Thị Điểm Sài Gòn, xin xác hai ông Diệm và Nhu đưa về tư thất.
Lúc 17g30 ngày 2-11-1963 do Thiếu tá đại đội Tổng hành dinh Tổng tham mưu đảm nhận việc di chuyển xác của hai ông Diệm và Nhu ra bệnh viện Saint Paul bằng một chiếc xe hồng thập tự với hai chiếc quan tài do Thiếu tá đại đội trưởng đại đội Tổng hành dinh Tổng tham mưu của hãng Tobia, giao lại cho hai ông bà Trần Trung Dung nhờ hãng hòm Tobia lo việc liệm và an táng.
Khi tẩm liệm xong, hai quan tài để tại một phòng riêng trong nhà xác bệnh viện Saint Paul thì Trung tướng Tổng trấn đô thành Sài Gòn và Ủy viên quân vụ thị trấn Sài Gòn theo sự yêu cầu riêng của hai ông bà Trần Trung Dung, sắp đặt tổ chức việc an táng hai ông Diệm và Nhu tại nghĩa trang của người Pháp tại đường Mạc Đĩnh Chi Sài Gòn, vào ngày 3-11-1963 vào khoảng 12g trưa, chôn tại lô đất số 3, nơi đây đã đào sẵn hai huyệt đã xây kim tĩnh.
Trong khi ông bà Trần Trung Dung nhờ Tổng trấn tổ chức việc mai táng thì học sinh và dân chúng đô thành cũng tổ chức ban chỉ đạo đền nhà xác bệnh viện Saint Paul hoặc đến đất thánh ở đường Mạc Đĩnh Chi để cướp hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu để tế các vị sư đã tử vì đạo cho thỏa dạ dân chúng và học sinh.
II. Vào khoảng 20g00 ngày 2-11-1963, theo yêu cầu của ông bà Trần Trung Dung nhờ Hội đồng Quân nhân cứu nguy và cho gởi hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu sang một bệnh viện của quân đội để tránh sự cướp phá nói trên.
Lúc 21giờ 00 ngày 2-11, do lệnh của quyền Trung tướng Tổng tham mưu trưởng bảo liên lạc với ông bà Trần Trung Dung lo việc di chuyển hai quan tài về để một nơi trong Bộ Tổng tham mưu đồng thời Trung tướng Tổng trấn Sài Gòn ra lệnh hủy bỏ việc an táng hai ông Diệm và Nhu tại nghĩa trang ở đường Mạc Đĩnh Chi, mặc dầu hai huyệt đã đào và xây kim tĩnh rồi.
Lợi dụng trong giờ giới nghiêm, đúng 1 giờ 30 ngày 3-11-1963 ông bà Trần Trung Dung viết thư cho Bà Soeur Supérieure Giám đốc bệnh viện Saint Paul nhận lãnh hai quan tài giao lại cho quân đội chở về Bộ Tổng tham mưu để tại phòng đại đội Tổng hành dinh Tổng tham mưu, đúng 2 giờ 00 ngày 3-11-1963. Trong thời gian hai quan tài của ông Diệm và ông Nhu để tại Bộ Tổng tham mưu, việc canh gác được tổ chức cẩn thận.
Đến ngày 6-11-1963 thì bỗng nhiên chiếc quan tài của ông Anh bị xì hơi bay mùi khó chịu.
Ngày 7-11-1963, vì nhận thấy tình trạng học sinh và dân chúng Đô thành vẫn còn phẫn nộ không thể an táng hai ông Diệm và Nhu tại Sài Gòn hay đưa về Huế được, phần thì một quan tài đã bị xì hơi hôi thối nên ông bà Trần Trung Dung gửi thư yêu cầu Trung tướng quyền Tổng tham mưu trưởng cho mượn một khu đất trong trại Trần Hưng Đạo đê tạm an táng hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu trong một thời gian rồi sẽ đem cải táng sau (bản bức thư đính kèm).
Tiếp theo yêu cầu của hai ông bà Trần Trung Dung đề ngày 7-11-1963, Trung tướng quyền Tổng tham mưu trưởng chỉ định khoảng đất để tạm an táng hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu tại Bộ Tổng tham mưu, do sự vụ văn thư số 835/TTM/VP ngày 7-11-1963.
III. Ngày 8-11-1963 đúng 20g00 hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu do quân nhân thuộc đại đội mai táng của quân vụ thị trấn Sài Gòn dưới sự chỉ huy của Đại úy Đỗ văn Giương, Đại đội trưởng đại đội mai táng, được di chuyển bằng hai chiếc GMC, từ phòng họp đại đội Tổng hành dinh Tổng tham mưu đến đặt trên hai huyệt đã xây kim tĩnh sẵn tại khu làng Võ Tánh, sau chùa Hưng Quốc Tự, phía đông bắc.

Khi đó có sự hiện diện của hai ông bà Trần Trung Dung và Linh mục Claude Larre, Đại diện Tòa Khâm mạng Sài Gòn do ông bà Trần Trung Dung mời đến hành lễ từ 20g00 đền 20g50 ngày 8-11-1963 sau khi Linh mục làm lễ xong, hai quan tài được hạ xuồng hai huyệt đã xây kim tĩnh sẵn, với sự hiện diện của:
- Ông bà Trần Trung Dung
- Linh mục Claude Larre
- Ủy ban kiểm soát
Tất cả các chi tiết đều chụp ảnh (trừ lúc chết).
IV. Huyệt:
- Huyệt xây kim tĩnh gạch 10, đổ xi măng, sâu 1 thước 30, ngang 1 thước 20, dài 2 thước 50.
Hai huyệt nằm song song, cách nhau bề ngang 1 thước.
- Khi hai quan tài hạ xuồng hai huyệt xây kim tĩnh, đổ đầy cát, trên miệng huyệt đậy hai tấm đanh gắn xi măng kỹ.
V. Mộ:
- Mộ nằm về phía đông bắc lăng Võ Tánh, mé bên phải mộ ông Lê văn Phong, bào đệ Tả quân Lê văn Duyệt.
Đầu hướng về phía Tây sau chùa Hưng Quốc tự. Chân đưa về phía đông, khu nhà thờ Phát Diệm.
- Hai nấm mộ tô đá rửa, trong lòng mộ dưới đổ cát trên để một lớp sỏi trắng. Nền mộ cao 0 thước 40 dưới đổ đá, trên tráng xi măng, chung quanh nền xây bệ cao 1 thước 80. Bốn góc có bốn trụ. Trước mộ có sân tráng xi măng rộng 1 thước 50, có cửa và bậc thang bước vào mộ. Chu vi dài 7 thước, ngang 6 thước.
- Vòng quanh khu đất mộ nói trên có rào kẽm gai và trụ xi măng, một cửa vào, và có đặt thường trực một vọng gác trần.
Bảy năm sau cuộc phong trần
Ngày 2-11-1965, ngày giỗ đoạn tang Tổng Thống Diệm và ông Cố vấn Nhu, chiến cuộc đã bắt đầu gia tăng. Chỉ một tuần lễ cuối tháng 10-1965 số quân nhân thương vong lên đến 1.600 người, tính trung bình mỗi ngày có trên 200 quân nhân hy sinh về chiến cuộc.
Quốc lộ số 1 từ Long Khánh qua Phan Rang, Khánh Hòa, Phú Yên cho tới Quảng Trị hoàn toàn bị cắt đứt. Hàng không trở thành một phương tiện duy nhất nối liền Sài Gòn với các tỉnh miền Trung và Cao nguyên trung phần.
Công trình ấp chiến lược bị phá hủy toàn bộ từ năm 1964. Các địa điểm dinh điền trở nên hoang phế.
Số cố vấn quân sự Mỹ trước năm 1963 là 14.000 người và chỉ ở cấp sư đoàn thì cuối năm 1965, đã tăng gấp hai lần hơn và có mặt ở khắp các đơn vị quân binh chủng từ cấp tiểu đoàn đến chi khu.
Đầu năm 1965, tòa Đại sứ Mỹ rất thỏa mãn vì đạt được ước vọng mà trước đó hai năm Tòa Đại sứ này đã tìm mọi cách để thuyết phục Tổng Thống Diệm chấp nhận nhưng ông Diệm kiên quyết từ chối.
Đó là việc tòa Đại sứ Mỹ thiết lập mỗi vùng chiến thuật một cơ cấu mệnh danh cơ quan dân sự vụ do một Giám đốc người Mỹ chỉ huy. Kể từ đây viên Giám đốc này được coi là Cố vấn dân sự Mỹ tối cao tại văn phòng Chính phủ. Tòa hành chính tỉnh đều có Cố vấn dân sự Mỹ đảm trách: Cố vấn về hành chính, an ninh, xây đựng nông thôn, viện trợ kinh tế Mỹ và kể cả giáo dục học hành.
Tại Trung ương, các Bộ đều thiết lập một cơ quan dành riêng cho viên chức Cố vấn Mỹ kể cả ngành văn hóa giáo dục đến xã hội y tế.
Trước 1963, tòa Đại sứ Mỹ chỉ có một phòng trung ương tình báo nhưng nay thì tòa Đại sứ lại thiết lập thêm một sở mệnh danh An ninh dân sự do một Giám đốc đứng đầu. Ngoài tổ chức CIA còn có tổ chức CID, đặt cơ sở và hoạt động trên toàn cõi Việt Nam. Hình ảnh người lính Mỹ xuất hiện như một thứ uy quyền mới. Hải cảng Cam Ranh trở thành căn cứ tiếp vận vĩ đại của Mỹ mang tên Mỹ “Cam Ranh City” – Long Bình, Biên Hòa, An Khê, Quy Nhơn đều là những căn cứ lớn lao bậc nhất của lục quân Mỹ tại Đông Nam Á.
Số Cố vấn Mỹ được tăng thêm 5000 người vào tháng 6-1964 (cộng với 14.000 trước năm 1963). Nhưng sau vụ tàu Maddox (2-8-1964) số Cố vấn được gia tăng rất mau. Đầu tháng 8-1964 phản lực cơ F-102 của không lực Mỹ lần đầu tiên được gửi qua Việt Nam tham chiến.
Chiến tranh mở rộng. Quân lực Mỹ ào ạt đổ vào Nam Việt Nam. Quân số lên tới 526.000 gồm thuỷ, lục, không quân. Tiếp theo quân đội Đại Hàn, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi, Phi Luật Tân, Thái Lan sau này cũng ào ạt tiến vào Nam Việt Nam.
Ba tháng sau khi anh em Tổng Thống Diệm qua đời, tướng Nguyễn Khánh lại làm đảo chính và mệnh danh là chỉnh lý vào ngày 30-1-1964 và Hội đồng Quân nhân ra quyết định chấm dứt nhiệm vụ của Ban chấp hành Hội đồng thành lập ngày 1-11-1963. Tướng Khánh ra tuyên cáo giải thích lý do của cuộc chỉnh lý là vì “Từ 3 tháng nay, tình hình suy sụp về mọi mặt, chính quyền tỏ ra bất lực và phản cách mạng, một số người chạy theo thực dân và Cộng sản do đó một lần nữa quân đội phải đứng lên can thiệp”. Các tướng Kim, Xuân, Đôn, Đính bị giam giữ. Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ bị bắt đem vào Bộ Tổng tham mưu và do chỉ thị của Thiếu tướng Dương văn Đức, Đại úy Chi rút dây lưng da trói hai tay ông lại và dẫn đi ở sân cờ Bộ Tổng tham mưu. Thật là “bức tranh vân cẩu vẽ người lao đao”. Sau đó, ông Thơ được phóng thích và xin từ chức cùng với toàn thể nội các của ông.
Ngày 17-2-1964, sĩ quan báo chí Bộ Quốc phòng chính thức tiết lộ: “Thiếu tá Nguyễn văn Nhung sĩ quan tổng quát và tùy viên của Trung tướng Dương văn Minh bị bắt giữ hồi đêm 30-1-1964 và giam tại lữ đoàn nhảy dù trại Hoàng Hoa Thám – ông Nhung tự vẫn bằng dây giày”. Ông Nhung chết năm 39 tuổi. Ông được vinh thăng Thiếu tá sau ngày đảo chính 1-11-1963 và cho đến nay vẫn được coi là “tác giả” bắn vào đầu và đâm vào lưng anh em Tổng Thống Diệm. Theo tài liệu đặc biệt của nhật báo Dân Ý, từ số 140 ngày 1-10-1970 đến số 160 thì Thiếu tá Nhung vốn là người ngang ngược hung dữ. Dân vùng Hưng Phú, Chánh Hưng mệnh danh ông Nhung là “cọp đen” ông Nhung vốn là sĩ quan thân tín của tướng Minh và rất được tướng Minh thương yêu (Thiếu tá Nhung có máu nghệ sĩ, hay đánh lộn và say mê tuồng cải lương cùng “món” lục huyền cầm và sáu câu vọng cổ). Theo tài liệu đã dẫn thì Thiếu tá Nhung bị đá bể lá lách sau khi ông đã khai tất cả những bí mật trong vụ thanh toán anh em Tổng Thống Diệm. Lời khai của ông được thâu băng và trao cho tướng Khánh.
Kể từ biến cố 1-11-1963 cho đến khi thành lập Đệ nhị Cộng hòa ngày 20-11-1967, trong vòng bốn năm, miền Nam đã trải qua bốn Chính phủ: Chính phủ Nguyễn Khánh (quân nhân), Chính phủ Trần văn Hương (độc lập), Chính phủ Phan Huy Quát (Đại Việt), Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ (quân nhân). Đó là lẽ tất yếu, bởi làm mất lòng các “ông bầu” thì Chính phủ sẽ không thể tồn tại.
HẾT
![]() |
| TT Dwight Eisenhower và TT Ngô Đình Diệm |
Filed under: TÀI-LIỆU | Leave a Comment »
Ai Giết Anh Em TT. Ngô Đình Diệm -9- (Quốc Đại)
| Chương 9 DIỄN TIẾN CỦA MỘT CUỘC BINH BIẾN |
Ba phiên họp lịch sử
Kể từ phiên họp lịch sử tại Câu lạc bộ Bộ Tổng tham mưu vào ngày 20-8, tướng lĩnh đã chính thức nhảy vào cuộc. Cũng từ đó, ông Nhu chấp nhận đề nghị của tướng Đôn để cho các tướng lãnh hội họp hàng tuần để thảo luận ý kiến về các vấn đề quân sự. Đó cũng là cơ hội vàng son, giúp các tướng ngồi gần nhau, mà trước đó họ hoàn toàn phân hóa. Mỗi ông tướng là một ốc đảo biệt lập, không những không thuận nhau mà còn kình chống nhau vì quyền lợi và địa vị. Bây giờ thì mỗi tuần các tướng đều có lý do hội họp mà không ai nghi ngờ gì cả. Đại sứ Cabot Loadge vẫn bí mật liên lạc với một số tướng lãnh qua con đường CIA, mà do một số cố vấn Mỹ xây dựng. Đại sứ Cabot Lodge trong cuộc gặp gỡ riêng ông Nhu vào đầu tháng 9 tại Đà Lạt đã đưa ra hai đề nghị:
1) Yêu cầu chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tổng cải tổ và tiến dần đến một cơ chế dân chủ rộng rãi như nền dân chủ tự do của Mỹ.
2) Điều cấp thiết là chính quyền Ngô Đình Diệm phải cải tổ Chính phủ có nghĩa là phải mở rộng Chính phủ để các nhân sĩ đối lập tham chính.
Trước hai đề nghị đó, ông Nhu trả lời ông Cabot Lodge về đề nghị:
Đề nghị 1 – Việt Nam Cộng Hòa đang có chiến tranh với Cộng sản và Việt Nam Cộng Hòa hiểu rõ chiến lược chiến tranh cách mạng của Cộng sản hơn bất kỳ một quốc gia Tây phương nào. Để đối phó với cuộc chiến tranh đó, Việt Nam Cộng Hòa không thể thực thì một nền dân chủ tự do theo kiểu Mỹ. Nhưng theo ông Nhu, Việt Nam Cộng Hòa đang thực thi dân chủ từ hạ tầng thôn ấp qua tổ chức ấp chiến lược – truyền thống xã hội Việt Nam và thực tại miền Nam không thích hợp với dân chủ xứ Mỹ và dân chủ từ xứ này phải từ hạ tầng đi lên chứ không thể có cơ chế dân chủ kiểu Mỹ ở thượng tầng.
Đề nghị 2 – Tòa án quân sự tha bổng 29 nhân sĩ thuộc nhóm Caravelle ngày 13-7-1963 là một thiện chí chứng tỏ Chính phủ muốn dung hòa với những người đối lập.
Đại sứ Cabot Lodge lại khuyến cáo: “Vì chiến tranh mỗi lúc mỗi gia tăng, an ninh mỗi ngày một thêm xáo trộn và để đẩy mạnh nỗ lực chiến tranh”, ông yêu cầu chính quyền Ngô Đình Diệm dành ba bộ là Nội vụ, Quốc Phòng, Công dân vụ cho ba tướng lãnh. Những điều Cabot Lodge khuyến cáo chỉ một ngày sau đã vào tai một số tướng lãnh. Chính viên Phó giám đốc CIA Smith đã kín đáo tung ra tin này để thăm dò phản ứng ở các giới, chính quyền cũng như phía đối lập. Trung tuần tháng 9, giới thân cận với gia đình Tổng Thống Ngô Đình Diệm xầm xì to nhỏ về nguồn tin: Tướng Trần văn Đôn sẽ nắm Bộ Quốc phòng, tướng Tôn Thất Đính nắm Bộ Nội vụ và tướng Trần Tử Oai nắm Bộ Công dân vụ. Bộ này sẽ cải danh. Riêng tướng Nguyễn Ngọc Lễ sẽ được thăng Đại tướng nắm quyền Tổng tham mưu trưởng. Đây chỉ là dư luận Đại sứ Mỹ tung ra để thăm dò, tướng Lễ và Quân ủy Đảng Cần lao, do tướng Đính là chủ tịch lại tin như là thực. Không hiểu tướng Lễ có khoe với ai không thì không rõ nhưng ông Lễ bị Tổng Thống gọi vào đinh rầy la: “Anh nói gì nghe lạ rứa. Ai biểu cho anh là Tổng tham mưu trưởng”. Tướng Lễ bị cụt hứng.
Đại sứ Cabot Lodge đánh mạnh vào tham vọng chính trị của một số tướng lãnh và gián tiếp ủng hộ cho các tướng biết rằng: Hoa Kỳ hoàn toàn ủng hộ một cuộc cải tổ như vậy. Do đó, sau nhiều lần hội họp, một số tướng lãnh bị mê hoặc vì 3 cái ghế Quốc Phòng, Nội vụ và Công dân vụ.
Tương kế tựu kế, ông Nhu gián tiếp cho các tướng Đôn, Đính biết rằng: “Tổng Thống Diệm – muốn giao trọng trách cho các toa (tướng lãnh) nắm giữ ba Bộ quan trọng của Chính phủ”. Một lần ông Nhu nói với tướng Đính: “Mấy Bộ trưởng dân sự chỉ ăn hại mập xác, chẳng làm được trò trống gì. Lúc này các toa phải giúp moa dẹp bớt mấy thằng ăn hại”. “Lộng giả thành chân”, mấy tướng lãnh lại tin là thực. Ông Nhu cũng trình bày với Tổng Thống Diệm “Đính hay Lương giữ Bộ Nội vụ thì cũng thế, ăn thua là ở mình”. Nhưng Tổng Thống Diệm lại cương quyết không đồng ý, vì ông cho rằng: “Bộ trưởng chi… Bộ trưởng thì phải có văn tự, thì dân nó mới nghe, nó mới cảm phục”.
Sau một phiên họp quan trọng đầu tháng 9, Hội đồng tướng lãnh đã gửi lên Tổng Thống Diệm một kiến nghị mệnh danh “Phiếu đệ trình Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa. Tối mật” ngày 3-9-1963 với một số đề nghị cải cách chính trị của chế độ qua 3 đề nghị:
1- Đòi hỏi một sự hy sinh nhỏ của gia đình Tổng Thống Xin Tổng Thống gởi ông bà Cố vấn Ngô Đình Nhu ra ngoại quốc hoặc vì lý do công vụ. Sau đó vấn đề trở về sẽ do tình hình chính trị định đoạt.
2- Xin thả ngay các sư sãi, tăng ni, sinh viên, học sinh do Lực lượng Cảnh sát chiến đấu và lực lượng cảnh sát đặc biệt bắt giữ, vì xét thấy tình hình đã trở lại yên tĩnh.
3- Cho tự do tín ngưỡng: Tuyên bố và thực thi các điểm yêu cầu của Phật giáo bằng hành động. Cấm chỉ mọi bắt bớ giam cầm. Thực thi khoan hồng toàn diện vô điều kiện với đoàn thể chính trị, tôn giáo, sinh viên, học sinh tranh đấu cho Phật giáo.
Điều lạ là phiếu đệ trình tối mật này lại đặt ngay trên bàn ông Nhu. Ông Nhu tỏ vẻ hài lòng với chiến thuật này đã có kết quả tốt đẹp. Một cách gián tiếp ông Nhu đã thúc đẩy một số tướng lãnh theo ông hoàn thành bản văn “Phiếu đệ trình tối mật” này với mục đích:
1- Làm một cú trắc nghiệm thăm dò thái độ của một số tướng lãnh mà ông Nhu nghi ngờ có thể đứng lên đảo chính.
2- Làm một “cú” xả hơi để giải tỏa những bất mãn dồn nén trong một số tướng lãnh.
3- Làm một “cú” thăm dò phản ứng của Đại sứ Cabot Lodge.
Kể từ ngày “Phiếu đệ trình tối mật” gửi đến Tổng Thống Diệm, các tướng Đôn, Đính, Oai thường xuyến tiếp xúc với ông Nhu. Và chính các tướng này trở thành hậu thuẫn cho ông Nhu và ông Nhu sử dụng phiếu đệ trình tối mật như một áp lực tinh thần để thỉnh cầu ông anh Tổng Thống, chấp thuận một số cải tổ quan trọng mà ông đã đề nghị trên căn bản của chính sách ấp chiến lược.
Đại sứ Cabot Lodge bằng cách này hay cách khác đã thúc đẩy các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa đòi hỏi Tổng Thống Diệm phải thực hiện ngay các Phiếu đệ trình tối mật và có nghĩa vụ phải trao cho tướng Đôn Bộ Quốc phòng và tướng Đính Bộ Nội vụ. Tướng Đính cũng như tướng Đôn trong lần tiếp xúc với ông Nhu vào cuối tháng 9 đều nhắc khéo ông Nhu về mấy điểm yêu cầu kể trên, nhưng Tổng Thống Diệm do dự không quyết định. Cũng từ đầu tháng 9, ông Nhu bắt đầu nghi ngờ Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần và cho rằng Nguyễn Đình Thuần thân Mỹ và trở thành con bài của McNamara dể thực hiện chính sách mới của Mỹ tại miền Nam Việt Nam.
Ngày 10-9, bà Nhu cùng phái đoàn Quốc Hội lên đường xuất ngoại để gọi là “giải độc” về vụ Phật giáo. Cũng thời gian này, bác sĩ Trần Kim Tuyến, nguyên Giám đốc Sở nghiên cứu chính trị được cử sang Ai Cập nhận chức vụ Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại đây. Nhưng khi đến Le Cairo thì gặp trắc trở, vì Ai Cập đã công nhận đại diện Bắc Việt, và Việt Nam Cộng Hòa từ chối không thiết lập quan hệ bang giao trên cấp bậc Tổng lãnh sự.
Do đó, bác sĩ Tuyến trở về Hong Kong. (Gia đình ông ở Sài Gòn bị nhóm Trần văn Khiêm (em ruột bà Nhu) gây khó dễ và dọa ném lựu đạn ám hại vợ con ông nên cả gia đình sang định cư ở Hồng Kong. Cuối tháng 10 do cơ quan tình báo trung ương nhận được một tài liệu tối mật của Mặt trận Giải phóng miền Nam. Bác sĩ Tuyến người nắm rõ các đầu dây thuộc hệ thống sở Nghiên cứu chính trị. rời khỏi cơ sở này vào đầu tháng 2-1963, nhưng ở ngoài không một ai hay biết, kể cả tướng lãnh Bộ trưởng Ngoại trừ một số người thân tín. Qua tài liệu.
Chiều 5-10 ông Nhu vào tận Bộ Tổng tham mưu để tham dự Hội đồng tướng lãnh. Dịp này ông Nhu đề cập đến vai trò quan trọng của ấp chiến lược và quân đội là một khả năng hữu hiệu nhất để hoàn thành vai trò của ấp chiến lược. Ông Nhu cũng “tâm sự” với tướng lãnh là, hiện nay Tổng Thống Diệm đang bị một số Bộ trưởng thối nát bao vây và làm cản trở công trình phát triển của ấp chiến lược. Ông Nhu nói với giọng nửa đùa nửa thật: “Như rứa thì làm được chi. Các toa phải đảo chính chơi một đêm cho mấy tay ăn hại mập xác chúng nó sợ”.
Tuy nhiên theo tướng Huỳnh văn Cao thì ông Nhu đã dằn giọng nói: “Nếu ông tướng nào muốn đảo chính lật đổ chế độ này thì Quân đội phải treo cổ ông ấy lên”. Dịp này ông Nhu đã công khai tiết lộ cho Hội đồng tướng lãnh biết là một đại diện cao cấp của chính quyền Bắc Việt đã vào Sài Gòn và yêu cầu gặp riêng ông Nhu để nói chuyện.
Từ “Bravo I” đến “Bravo II”
Sau khí tham dự Hội đồng tướng lãnh, tướng Nguyễn Khánh vào gặp riêng ông Nhu cùng một nhân vật thân tín nắm ngành tình báo. Tướng Khánh cho biết: Đang có một số tướng tá âm mưu đảo chính. Tướng Khánh lưu ý Đại tá Tung là phải hết sức coi chừng tướng Lê văn Kim, Trần văn Đôn và Trần Tử Oai. Ông Nhu chỉ thị cho tướng Khánh, nếu bất cứ tướng nào muốn móc nối tham gia đảo chính thì cứ “nhảy vô”. Đó cũng là điều mà ông Nhu căn dặn tướng Đính.
Trung tuần tháng 10 tại Đà Lạt, ông Nhu cùng tướng Khánh và một số cộng sự viên thân cận cùng nhau hoạch định kế hoạch chống đảo chính. Theo kế hoạch này, nếu Sài Gòn có đảo chính, tướng Đính bị cô lập thì quân đoàn II với sư đoàn 23 do Đại tá Lê Quang Trọng là Tư lệnh và sư đoàn 22 do Đại tá Lê Cao Trị sẽ là thành phần chủ lực, cắt đứt liên lạc giữa Cao nguyên và Sài Gòn. Ông Nhu sẽ theo lộ trình định sẵn lên Cao nguyên. Sau đó, quân đoàn II sẽ phản công, phối hợp với quân đoàn IV trở về giải phóng Sài Gòn.
Riêng tại Sài Gòn, ông Nhu trao cho tướng Đính được toàn quyền hành động. Tướng Đính đệ trình kế hoạch hành quân chống đảo chính được thực hiện theo ý ông Nhu. Đây là kế hoạch phá tan âm mưu đảo chính và thực hiện một cuộc đảo chính giả, mang tên Bravo I. Lực lượng gồm có 3000 quân, 40 thiết giáp, 6 đại đội lực lượng đặc biệt. Tướng Đính chính thức điều động lực lượng này kể từ sáng ngày 31-10-1963, dưới quyền ông là Trung tá Nguyễn Ngọc Khôi và Đại tá Lê Quang Tung. Về thiết giáp có Trung tá Nguyễn văn Thiện.
Ngày 23-10 tại phòng khách dinh Gia Long có Đại úy Minh, Đại úy Hoàn, Đại úy Bằng, tướng Đính với vẻ lo âu nói: “Nếu có đảo chính thì Ba Đính này phải nhảy vô không thì Mai Hữu Xuân nó giết chết anh em tụi mình”.
Nhưng thay vì thực hiện hành quân chống đảo chính, tướng Đính đảo chính luôn và cuộc hành quân này được mệnh danh là Bravo II thay cho Bravo I.
Ngày N và giờ G
Ngày 1-11-1963 đúng phiên trực của Trung sĩ Thái. Không khí Bộ Tổng tham mưu ngay từ sáng sớm đã có vẻ bất thường. Một sĩ quan nói nhỏ với Thái, “sắp có chuyện nghe”. Lực lượng bố phòng tại Bộ Tổng tham mưu không có quá một đại đội và hầu hết là lính văn phòng. Khoảng 10 giờ ông Thái để ý thấy một số binh sĩ thuộc Trung tâm huấn luyện Quang Trung về tăng cường. Rồi xe Jeep nườm nượp đi về phía tiền đình. Một điều lạ đối với Trung sĩ Thái là Đại tá Nguyễn văn Chuẩn ra khẩu lệnh: Các sĩ quan chỉ được vào mà không được ra kể cả tướng lãnh. Gặp người lái xe của Đại tá Lê Quang Tung, Thái hỏi nhỏ: “Mấy trưa hôm nay họp hành gì mà quan trọng vậy”. Người tài xế nháy cặp mắt với Thái ra vẻ bí mật rồi nói nhỏ: Coi bộ không êm mấy ông tướng muốn làm tới ta. Khoảng 11 giờ, vị sĩ quan trực thuộc phòng 4 đi cùng với Đại tá Chuẩn ra tận cửa ngoài rồi gọi Thái dặn dò. Bất cứ một xe nào vượt ra ngoài phải ra lệnh dừng lại, nếu cưỡng lệnh bắn bỏ kể cả xe tướng. Cùng giờ đó, một đoàn 4 chiếc thiết giáp đi qua cửa chính Bộ Tổng tham mưu lên thẳng Tân Sơn Nhất rồi quay trở lại, án ngữ phía cây xăng trên đường Võ Tánh. Khoảng nửa giờ, bốn chiếc thiết giáp lại chuyển bánh chạy về phía Phú Nhuận.
Khoảng 12 giờ, viên tài xế của Đại tá Tung tìm đến Thái, nói nhỏ: “Cậu giúp tớ việc này nếu xong sẽ có công lớn”. Nhìn quanh không thấy ai, viên tài xế nói: “Đây số điện thoại đây, cậu gọi giùm tớ Trung tá Huỳnh hay Thiếu tá Triệu cũng được hay là sĩ quan trực của Bộ Tư lệnh lực lượng đặc biệt cũng được. Cậu cấp báo cho họ biết là Đại tá Tung đang mắc kẹt ở đây rồi”. Trung sĩ Thái thắc mắc: “Kẹt là kẹt thế nào?”. Viên tài xế nói. “Kẹt là kẹt chứ còn là gì nữa… mấy cha đang tính chuyện đó”. Trung sĩ Thái tìm cách liên lạc với Thiếu tá Lê Quang Triệu – em ruột Đại tá Tung và là Tham mưu trưởng lực lượng đặc biệt.
Cũng vào thời khắc đó, Hội đồng tướng lãnh nhóm họp. Đại tá Nguyễn văn Chuẩn được chỉ thị phụ trách an ninh tổng quát, trong vòng Bộ Tổng tham mưu. Mở đầu buổi họp, Trung tướng Dương văn Minh với vẻ mặt dao động nhưng cương quyết đứng lên tuyên bố lý do buổi họp, nghĩa là giờ hành động đã đến… Kế hoạch đảo chính nhắm ngày N (1-11) và giờ G (13 giờ) đã thực sực mở màn. Trung tướng Minh dứt lời – phòng họp lặng như tờ, thứ yên lặng nghẹt thở. Từng khuôn mặt tướng tá đổi màu. Những nụ cười tắt hẳn trên môi. Mọi người đều ngỡ ngàng. Một số tướng tá trong cuộc ghé tai nhau thì thầm to nhỏ.
Tướng Minh cũng lên tiếng kêu gọi tình chiến hữu nơi tướng tá và mọi người vì quyền lợi chung đối với đất nước hãy gạt bỏ tình cảm riêng tư để cùng nhau đoàn kết lật đổ chế độ hiện hữu. Ông cũng nhấn mạnh nếu chiến hữu nào chống lại Hội đồng tướng lãnh phải tạm thời cô lập ngay.
Đại tá Lê Quang Tung đứng lên phản đối mưu đồ của Hội đồng tướng lãnh và ông cương quyết chống đối lại mưu đồ đó. Tướng Dương văn Minh gõ tay vào bàn rồi một cái lừ mắt của tướng Kim, Đại tá Tung liền bị Đại úy Nhung và hai nhân viên an ninh mời ra khỏi phòng họp. Đến lượt Đại tá Huỳnh Hữu Hiển, Tư lệnh Không quân phát biểu ý kiến. Ông cho biết ông luôn luôn trung thành với chế độ Ngô Đình Diệm vì theo ông, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Chính phủ Diệm hợp pháp hợp hiến, ông chống lại việc lật đổ Chính phủ. Tức thì, Đại tá Hiển bị nhân viên an ninh mời ra khỏi phòng họp và tạm giam trong phòng “cô lập” các sĩ quan chống đối. Sau đó, Đại tá Hiển cùng ông Trần văn Tư Giám đốc Nha Cảnh sát Đô thành bị Thiếu tá Thiệt giải vào khám Chí Hòa. Riêng cuộc thuyết phục Đại tá Cao văn Viên là gay hơn cả, kéo dài cả nửa giờ song Đại tá Viên – Tư lệnh lữ đoàn nhảy dù – đã trả lời tướng Minh đại ý, là một sĩ quan, ông không muốn dính líu tới chính trị, hơn nữa ông chưa nhận được lệnh của thượng cấp nên xin được đứng ngoài cuộc vụ này. Ông cũng lưu ý ông không chống lại Hội đồng tướng lãnh nhưng theo đảo chính thì ông không theo. Tức khắc, tướng Minh ra lệnh cho Đại úy Nhung áp giải Đại tá Viên ra khỏi phòng họp và cô lập ngay.
Buổi họp bế mạc – 1 giờ 30, tiếng súng nổ ngay sau Nha Cảnh sát Đô thành. Từ giờ phút đó, Trung tướng Trần văn Đôn trở thành nhân vật chủ chốt số 1. Đường dây điện thoại giữa tướng Đôn và Đính hoạt động không ngừng. Từng phút từng giây… tại Bộ Tư lệnh quân đoàn III, tướng Đính thực hiện toàn bộ kế hoạch hành quân đảo chính mệnh danh Bravo II.
Thời khắc này, Bộ Tổng tham mưu quy tụ đầy đủ các tướng lãnh và một số sĩ quan cao cấp, nhưng lực lượng bảo vệ vẫn không hơn một đại đội với sự tăng cường của một đơn vị tân binh của Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.
Thiếu úy Chỉnh thuộc Bộ Tư lệnh lực lượng đặc biệt được tin Đại tá Tung bị bắt giam nên tức tốc kéo một đại đội đến cổng chính Bộ Tổng tham mưu rồi dàn quân bố trí.
Với một lực lượng thiện chiến như vậy nếu tràn vào Bộ Tổng tham mưu và tốc chiến tốc thắng thì lực lượng phòng vệ ở đây không thể đương đầu nổi. Đại tá Chuẩn được cấp báo đến nơi để dàn xếp. Thiếu úy Chỉnh cho biết là ông đến đây để kiếm Đại tá Tung đang bị giam giữ. Đại tá Chuẩn dùng lời lẽ ngọt ngào dụ dỗ… Rồi bất thần viên Thiếu úy này bị đoạt súng… Đại đội lực lượng đặc biệt bố binh ở ngoài định khai hỏa làm dữ nhưng nhờ lời nói ngọt ngào của Đại tá Chuẩn, viên Thiếu úy rút lui êm đẹp. Sau đó đại đội lên xe trở về căn cứ 77.
Một lát sau, Thiếu tá Lê Quang Triệu – em ruột Đại tá Tung – Tham mưu trưởng Lực Lượng đặc biệt, được tin cấp báo đã cùng một trung đội võ trang đến Bộ Tham mưu xem sự thể ra sao, ông có thể giải cứu được Đại tá Tung. Nhưng khi đoàn tùy tùng của Thiếu tá Triệu lọt được vào cửa chính Bộ Tổng tham mưu thì bị giải giới toàn bộ. Thiếu tá Triệu quay xe định vọt, tìm đường tẩu thoát. Xe ông bị bắn nổ lốp sau. Nhờ một sĩ quan thân thiết, Thiếu tá Triệu trốn thoát.
13 giờ hơn, từng loạt súng nổ chát chúa ở phía Bộ Tư lệnh Lực lượng đặc biệt (trong vòng thành Bộ Tổng tham mưu). Đó là loạt súng đầu tiên của đơn vị truyền tin do Đại úy Đỗ Luận chỉ huy tiến chiếm Bộ Tư lệnh Lực lượng đặc biệt. Nhưng không đổ máu do cuộc dàn xếp qua điện đàm giữa Đại tá Chuẩn và Trung tá Huỳnh (Tư lệnh phó Lực lượng Đặc biệt). Kể từ phút đó, Bộ Tư lệnh đặc biệt bị giải giới – Cả khu vực Tân Sơn Nhất và bộ Tổng tham mưu lọt vào tay phe đảo chính.
Cuộc đảo chính hụt 11-11-1960, lực lượng đảo chính ngoại trừ Đại tá Thi hầu hết do các sĩ quan cấp tá và úy trực tiếp điều động chỉ huy. Các sĩ quan này đều thuộc thành phần trẻ, trên dưới 30 tuổi và được coi là có tư cách, can đảm, đầy nhiệt huyết. Trong phút đầu “ra quân” dù có mấy tiểu đoàn nhảy dù, lực lượng đảo chính cũng đã làm chủ tình hình và làm tê liệt lực lượng bố phòng của Lữ đoàn liên binh phòng vệ Tổng Thống Lực lượng đảo chính không sử dụng hết hỏa lực của pháo binh cũng không có lực lượng thiết giáp nào tham dự.
Cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 lại hoàn toàn khác, phe đảo chính sửa soạn từ lâu, có đầy đủ phương tiện, được lãnh đạo bởi Hội đồng các tướng lĩnh.
Lực lượng của phe đảo chính gồm có bộ binh, pháo binh, thiết giáp, công binh, thủy quân lục chiến, nhảy dù và không quân. Tất cả đều thuộc cấp đơn vị và các mục tiêu chính các đơn vị này phải thanh toán là thành Cộng Hòa và dinh Gia Long.
Lực lượng phòng vệ thành Cộng Hòa và dinh Gia Long tuy nói là một Lữ đoàn song quân số không quá 800 người, gồm đại đội bộ binh, 4 chi đội thiết giáp, tất cả đều đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Nguyễn Hữu Duệ Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng lữ đoàn, Thiếu tá Nguyễn văn Hưởng, Tham mưu phó và Thiếu tá Huỳnh Hữu Lạc chỉ huy đoàn cận vệ đều ở trên dinh Gia Long.
Trung úy Bảo trưởng phòng 5, Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng Thống cùng nhiều nhân chứng khác trong làng hạ sĩ quan và binh sĩ có mặt từ lúc đầu cho đến lúc kết thúc cuộc đảo chính đều cho rằng, mọi chuyện diễn ra bình thường không có gì gọi là ác liệt. Nếu nói là ác liệt thì chỉ có pháo binh “tấn công” là ác liệt nhất (pháo binh thuộc sư đoàn 5 bộ binh).
Ngày 1-11 là ngày nghỉ, Trung úy Bảo đang ở nhà bỗng trong lữ đoàn cho gọi vào gấp. Lúc ấy vào khoảng 9 giờ sáng. Trung úy Bảo được Trung tá Khôi, Tư lệnh lữ đoàn giao phó cho công tác soạn bài học tập và thuyết trình vào lúc 2 giờ cùng ngày. Trong lữ đoàn đều có chương trình học tập vào mỗi buổi thứ ba và thứ sáu. Nhân chứng được Trung tá Khôi cho biết: “Chiều nay nếu 2g tôi đi họp chưa về thì anh cứ cho tập họp ở hội trýờng rồi cho mời Thiếu tá Duệ xuống chủ toạ”.
Trung úy Bảo ngồi phòng ngoài nhìn vào thấy Trung tá Khôi cùng Thiếu tá Duệ đang to nhỏ bàn bạc với vẻ khác lạ. Nhân chứng tự nghĩ: “Chắc có chuyện gì quan trọng đây”. Tình hình Sài Gòn lúc ấy thực là ngột ngạt. Nay có tin đảo chính mai lại có tin lật đổ Tổng Thống Diệm. Nhất là đài VOA luôn luôn có những bài bình luận và tin tức hoàn toàn bất lợi cho chính quyền Ngô Đình Diệm và càng làm tăng không khí giao động bất trắc vốn đã âm ỉ trong lòng Sài Gòn.
Sau khi soạn xong các tài liệu học tập, Trung úy Bảo xách radio ra ngoài hành lang nhìn trời nghĩ vu vơ: Không hiểu mai đây tình hình sẽ biến chuyển như thế nào. Đã có bao nhiêu dấu hiệu báo trước cơn giông bão sắp bùng dậy. Nhưng bao giờ, như thế nào, sẽ tàn phá ra sao và làm sụp đổ những gì?
Một số sĩ quan trẻ trong Lữ đoàn thuộc thành phần thân cận của Tổng Thống Diệm và ông Nhu cũng cảm thấy sự bất trắc ngột ngạt nào đó. Vị Tư lệnh và Tư lệnh phó của họ mấy tháng nay bồn chồn trông thấy và nhiều đêm mất ngủ, cho nên họ cũng phập phồng hoang mang.
Ngày 27-10, Đại úy Hoàn tháp tùng Tổng Thống Diệm lên Đà Lạt, cùng đi với Tổng Thống có vợ chồng ông Đại sứ Cabot Lodge và Đại tá Lu Coner.
Hoàn đã đi sau ông Lodge, ông ta đội chiếc nón lá Việt Nam, Tổng Thống Diệm vận Comple mầu nâu nhạt, cầm can, đi trước ông Lodge. Tổng Thống Diệm vẫn lạnh lùng ít nói. Hôm ấy Tổng Thống Diệm và ông Lodge đến thăm một ấp chiến lược kiên cố.
Dịp này Tổng Thống Diệm đã tặng Đại tá Coner chiến gậy do một nông dân trong ấp tặng cho Tổng Thống Tối hôm đó, Tổng Thống thết cơm vợ chồng ông Lodge tại dinh ở Đà Lạt. Trong cùng thời khắc, Đại úy Hoàn nghe đài VOA vẫn cùng một luận điệu công kích kịch liệt chế độ Ngô Đình Diệm.
Hoàn hồi tưởng lại: Cách ngày đảo chính không lâu, trong chuyến kinh lý tại Cam Ranh, trước mặt tướng Khánh và một số viên chức cao cấp, Tổng Thống Diệm chỉ vùng núi non và bãi biển Cam Ranh rồi nói với mọi người (Trong đó có Thiếu tướng Khánh, Trung tá Nguyễn Viết Khánh Tỉnh trưởng Phan Rang): “Mỹ nó thích căn cứ này lắm, nhưng tôi không chịu”. Lời nói ấy mỗi ngày vang động trong ký ức Hoàn và tạo nên bao nhiêu nghi vấn.
Dạo này, Hoàn quan sát thấy Tổng Thống Diệm có vẻ hốc hác, đăm chiêu và càng khắc khổ. Thường lệ, Tổng Thống Diệm đi ngủ lúc 1 giờ đêm và 5 giờ sáng đã dậy. Nhưng từ năm 1963 có nhiều đêm Hoàn thấy Tổng Thống Diệm trằn trọc thức gần trắng đêm. Ông hút thuốc liên miên.
Hoàn nhớ lại, vào cuối tháng 7-1963 Hoàn đã được tai nghe mắt thấy Tổng Thống Diệm lẩm bẩm nói chuyện một mình. Ông Diệm nhiều lần độc thoại như vậy, nhưng lần này thì khác, khiến Hoàn càng thêm xao xuyến.
Giấc mơ trở về
Lần ấy, vào khoảng 2 giờ đêm, Đại úy Hoàn đang thiu thiu ngủ (vì Đại úy Hoàn phải trực đêm) bỗng viên cận vệ chạy vào phòng gọi: “Thưa Đại úy, Tổng Thống đi…”. Vì ở trong dinh nhiều năm nên Đại úy Hoàn không lấy gì làm ngạc nhiên. Lâu lâu, Tổng Thống Diệm lại làm một chuyến du ngoạn trong đêm như vậy.
Vẫn theo thường lệ, Đại úy Hoàn đi dép mặc quần jean, áo bỏ ngoài quần giắt khẩu rouleau vào lưng… rồi theo Tổng Thống Diệm với viên cận vệ (có phận sự ngồi gác ở cửa phòng riêng của Tổng Thống)… Lâu nay Tổng Thống Diệm không đi đâu xa, ông ra đứng trước bao lơn dinh Gia Long, Đại úy Hoàn và viên cận vệ đứng sau lưng Tổng Thống chừng vài ba bước. Đó là thông lệ của sĩ quan tùy viên và cận vệ của một Tổng Thống trong thời buổi lộn xộn. Như mọi lần, Tổng Thống Diệm xuống vườn xem cây cối và hoa hoặc đi thơ thẩn ngắm cảnh thiên nhiên. Nhưng lần này thì không như vậy, Tổng Thống Diệm chỉ ngước mắt nhìn trời mây, ông đứng như chôn chân trên thềm bao lơn. Ông đứng lâu chưa từng thấy. Hoàn lấy làm lạ vì “Tổng Thống đứng lâu như vậy đến 40 phút và ông chỉ nhìn trời rồi miệng lẩm bẩm”. Đại úy Hoàn và viên cận vệ càng phải đứng im phắc không dám gây một tiếng động nào. Hoàn cũng chả quan tâm vì năm năm sống cạnh ông Diệm, Hoàn đã quá quen thuộc với đời sống riêng tư của ông. Nhưng có câu này ông Diệm nói khá lớn, cả Hoàn và cận vệ đều nghe rõ. Câu nói được ghi lại như sau: “Thôi sang năm thì mình xin về.. mệt quá rồi… mình xin về phụng dưỡng bà cố”.
“Nhưng muốn xin về thì ông Nhu cứ bắt mình phải làm”. Câu nói trên được ông Diệm nhắc đi nhắc lại rồi, ông quay lại lẩm bẩm nhìn trời xa xăm.
Rồi khi quay lại phía sau lưng, ông Diệm tròn mắt nhìn sĩ quan tùy viên và viên cận vệ ông có vẻ kinh ngạc trước sự hiện diện của hai người. Nhưng không nói gì, lẳng lặng về phòng riêng. Đại úy Đỗ Thọ cũng một lần bắt gặp Tổng Thống Diệm độc thoại tương tự như vậy vào một đêm tháng 7.
Bắt đầu nổ súng.
Hồi tưởng lại như vậy rồi, qua dư luận, qua đài VOA, tùy viên Lê Công Hoàn linh cảm thấy một cơn giông bão nào đó sắp bùng lên. Cơn giông bão đó đã đến. Khoảng 1giờ 15 trưa 1-11, Thượng sĩ Thám đang chuẩn bị lên giường ngủ, nhắm mắt cho qua ít phút, bỗng có tiếng Thiếu tá Duệ nói lớn: “Quan sát lại xem thế nào?”. Theo phản ứng tự nhiên Thám vùng dậy chạy ra hành lang.
Thành Cộng Hòa vẫn im lìm trong buổi trưa nắng gắt. Lúc ấy Thiếu tá Duệ vẫn mặc may ô chân đi dép. Ông đang đứng trước cửa phòng riêng của ông (sau này trở thành trụ sở của “Wud” thuộc khu đại học đường Cường Để) chỉ một lát sau, Thượng sĩ Thám thấy một sĩ quan từ lầu trên chạy xuống báo cáo với Thiếu tá Duệ: “Từ phía ngã tư Đinh Tiên Hoàng, Phan Đình Phùng (Dakao) tôi thấy đang lố nhố, chúng đang lom khom tiến trên vỉa hè… Có đứa thì nhằm súng chĩa về phía thành”. Viên sĩ quan xác nhận: “Đây là Lính thủy quân lục chiến”. Thiếu tá Duệ nhún vai “Làm gì có chuyện lạ”. Ông trở vào phòng mặc quần áo, đặt khẩu rouleau bên lưng. Từ lúc ấy, Trung úy Bảo, Thượng sĩ Thám luôn luôn có mặt bên ông Duệ. Đầu tiên các sĩ quan thấy Thiếu tá Duệ quan sát rất kỹ, ông cũng nhận thấy như vậy nghĩa là có thủy quân lục chiến đang tiến về phía thành Cộng Hòa. Thiếu tá Duệ nhăn trán, lắc đầu: Chuyện lạ nhỉ. Giờ này làm gì có lính tráng nào tập dượt”.
Hơn nữa khu vực này được coi là loại yếu khu số 1, không một lực lượng nào được lai vãng đến đây mà không thông báo cho lữ đoàn biết trước. Ông Duệ quay máy gọi biệt khu Thủ đô. Phía dầu dây bên kia là Thiếu tá Dụ. Thiếu tá Duệ hỏi: “Đằng biệt khu có lệnh cho đơn vị nào di chuyển ở Đặc khu I không?”. (Đặc khu 1 tức là vùng Đakao và thuộc phạm vi thành Cộng Hòa). Thiếu tá Duệ lắc đầu nói với Thám và Bảo: “Lạ nhỉ, biệt khu Thủ đô Thiếu tá Dụ cũng hhông hay biết gì cả”. Sau khi quan sát lại lần nữa với nhiều dấu hiệu khả nghi, Thiếu tá Duệ ra lệnh báo động. Từ lúc ấy thành Cộng Hòa thức giấc trong cơn nôn nóng của buổi trưa. Sài Gòn nắng như thiêu. Tiếng còi vang lên khua động doanh trại… Khoảng 15 phút sau, tất cả đều ở thế tác chiến. Quân nhân ở trại gia binh kế cận cũng lần lượt trở vào thành gần đủ mặt. Những khẩu đại liên 30 nòng đen ngòm đều chĩa về phía đường Đinh Tiên Hoàng- Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tất cả đều chuyển dịch.
Đằng xa thủy quân lục chiến vẫn lố nhố bò dựa vào những gốc cây hay tiến lên vỉa hè và mỗi lúc càng di chuyển lại gần hơn.
Một sĩ quan bảo ông Duệ: “Mục tiêu ngon lành quá. Cứ thế mà cho đại liên quại thì đi đời hết cả bọn”. Một sĩ quan đứng chép miệng: “Tụi này sao ngu quá vậy, không biết thằng nào chỉ huy mà nghe ngu quá ta”.
Trong lúc đó Thiếu tá Duệ cầm máy gọi về dinh Gia Long.
Ông quay lại mỉm cười nói với mọi người: “Lại nhỉ, trên đó cũng không biết gì hơn”. Ông cho gọi Đại úy Nuôi trưởng phòng III đến trình diện và cùng ông xem xét tình hình. Từ xa, thủy quân lục chiến vẫn theo đội hình hàng dọc đang tiến lên. Chẳng bao lâu toán tiền phương đã lô nhô ở phía sau sân Hoa Lư. Có biến thật rồi.
Trong thành tất cả chỉ còn chờ lệnh nẩy cò. Lính trong thành có đủ lợi điểm nhất. Chỉ cần hai khẩu đại liên bắn chéo cánh sẻ thì toán tiền phương của thủy quân lục chiến sẽ gục hết ngay từ phút đầu. Trung úy Bảo thấy lính thủy quân lục chiến vẫn khơi khơi như không có vẻ gì là hành quân tác chiến cả.
Ngay lúc ấy, Thiếu tá Duệ ra lệnh cho một số sĩ quan chỉ huy hai xe thiết giáp tiến ra bọc phía sau, ông nói: Anh bắt sống mấy thằng chỉ huy đem về đây cho tôi.
Giữa lúc ấy, một tiểu đội thủy quân lục chiến vẫn tiến lại. Tiếng loa trong thành hô đứng lại. Toán lính này nằm rạp xuống rồi lại khom lưng, bò tiến lên. Tiếng hô vang lên lần nữa rồi 1, 2, 3… một loạt súng đại liên nổ chát chúa. Ngay trong loạt súng đầu đã có bốn lính thủy quân lục chiến gục ngã. Đám còn lại chạy dạt vào phía bên trong thành tường sân Hoa Lư.
Giờ đã điểm
Rồi 1 giờ 30 ngày 1-11 đã điểm. Một loạt đại bác 105 nổ vang rền và rất trúng mục tiêu thành Cộng Hòa. Có viên nổ giữa sân, có viên nổ trúng một phía doanh trại. Tiếp sau là bốn chiếc khu trục tới bắn hỏa tiễn.
Lúc ấy binh sĩ trong thành Cộng Hòa bắt đầu cảm thấy thực sự có biến động. Rồi lại từng loạt nữa… Tiếng nổ chát chúa vang rền. Trong thành vẫn chưa có ai bị thương.
Từ lúc ấy, Thiếu tá Duệ mời xuống phòng chỉ huy để điều động. Ông nói với các sĩ quan: “Có đảo chính thật các cậu ạ… không hề gì… người nào có nhiệm vụ đó”. Ông ra lệnh cho Trung úy Bảo theo chân hai chiếc thiết giáp ra khỏi thành. Bảo yêu cầu: “Thiếu tá cho quạt vài ba tua nữa… Bọn nó đang lố nhố ở đầy sân Hoa Lư. Mục tiêu ngon quá đi”. Ông Duệ không cho khai hỏa tiếp rồi bảo Bảo ra tìm cách thuyết phục và hỏi nguyên do xem sao “Anh em nhà cả mà”.
Trung úy Bảo đứng bên đây đường, vác loa gọi: “Alô! Alô!… Tôi Trung úy Bảo đây nguyên Trưởng phòng II Trường Võ bị quốc gia Đà Lạt đây”.
Nói như vậy ông biết chắc là trong đám sĩ quan đó cũng có người là bạn ông hoặc cựu sinh viên trường Võ bị Đà Lạt.
Bảo lại lên tiếng một lần nữa “Alô! Bảo đây xin các anh đừng có dại dột nghe theo ai, đừng có dại dột chết oan uổng cho một mưu đồ nào”. Quả nhiên khi Bảo vừa dứt lời thì từ phía bên kia sau sân Hoa Lư có một sĩ quan lên tiếng “Alô… Trung úy Bảo phải không? Alô Thinh đây”. Rồi có một tiếng súng nổ ở xa.
Có tiếng hô bắn, Trung úy Bảo liền băng qua phía đường Hồng Thập tự về phía Thinh. Theo sau ông là một người lính. Đến gặp Đại úy Thinh, đại đội trưởng thủy quân lục chiến, Trung úy Bảo hỏi Thinh: “Các anh được lệnh của ai về đây?”. Đại úy Thinh nói: “Tôi nghe Lữ đoàn liên minh phòng vệ Phủ Tổng Thống làm phản Tổng Thống nên bọn này kéo quân về cứu”. Bảo lắc đầu cười: “Lầm to rồi Thinh ơi… Làm gì có chuyện đó… Ai bảo các anh thế?” Thinh im lặng.
Lúc ấy đã có một lính thủy quân lục chiến bị chết ba bị thương trong loạt đạn nổ thứ nhất của lữ đoàn. Trung úy Bảo đề nghị với Thinh: “Cậu thấy không xung quanh đây toàn lực lượng của Lữ đoàn hết. Chỉ cần mấy khẩu đại liên đặt trên lầu kia quạt một lần các cậu sẽ đi đời hết. Thôi bây giờ bỏ khí giới đi rồi hạ hồi phân giải”.
Đại úy Thinh không chịu và nói: “Hàng thì tôi không thể hàng được. Cấp chỉ huy ra lệnh như thế nào thì làm như thế. Tuy vậy, bọn tôi có thể giá súng ngồi chơi được không?” Một sĩ quan thủy quân lục chiến khác phàn nàn: “Bọn tôi hành quân từ Tây Ninh về thì được lệnh di chuyển về đây ngay. Bọn này có biết mẹ gì đâu. Cấp trên bảo sao nghe vậy. Đang mệt thấy bà nội”. Đại úy Thinh cương quyết chỉ giá súng mà không chịu hàng.
Hai bên đều đồng ý án binh bất động. Đại đội thủy quân lục chiến của Đại úy Thinh rút lui vào sân Hoa Lư và giá súng. Theo lệnh của Thiếu tá Duệ, Trung úy Bảo mời Đại úy Thinh vào gặp ông Duệ để hai bên cùng sáng tỏ đầu đuôi câu chuyện. Đại úy Thinh từ chối, ông viện cớ Đại đội trưởng không được phép bỏ đơn vị khi đang ở tình trạng tác chiến. Tuy nhiên Đại úy Thinh vẫn cử hai sĩ quan đi theo, một Thiếu úy một Chuẩn úy. Qua sự điều tra tại chỗ, được biết có hai đại đội thủy quân lục chiến. Ngoài đại đội của Thinh, còn có đại đội của Châu đang dàn binh bố trận ở phía sau. Một sĩ quan của thủy quân lục chiến nói với Đại úy Bảo: “Chuyện rắc rối thấy mẹ… bọn này vừa đi hành quân về mệt chết cha… Làm gì có đảo chính. Trung tá Khang được Tổng Thống cưng nhất… có lẽ bọn tôi về đây để chống đảo chính”.
Từ phút đó, bên thành Cộng Hòa cũng án binh để “chờ xem”. Việc cấp thiết là phải tản thương. Trung úy Bảo đề nghị với Đại úy Thinh tạm thời đưa cả ba lính thủy quân lục chiến vào bệnh xá của lữ đoàn để cấp cứu (Trong đêm mùng một cả ba thương binh đều chết vì trúng đạn 105 ly của quân đảo chính… Trái đại bác rớt trúng ngay bệnh xá).
Mời Tổng Thống xuống hầm
Tại Bộ chỉ huy của lữ đoàn, Thiếu tá Duệ đang liên lạc với Bộ Tổng tham mưu. Tiếng ông Duệ: “Tôi muốn gặp ngay Trung tá Khôi… chú phải tìm cho bằng được. Ông ấy đang ở trên phòng Hội”. Ông Duệ vẫn chờ mãi. Trên dinh Gia Long lại gọi xuống: “Hoàn đây… không có chuyện gì quan trọng chứ?”. Ông Duệ trao máy cho một sĩ quan để liên lạc với Bộ Tổng tham mưu rồi tiếp chuyện với dinh Gia Long. Ông Duệ bảo Đại úy Hoàn: “Mời Tổng Thống xuống hầm gấp… Thiếu tá Hưởng có ở đấy không… Tại sao đến bây giờ mà chưa để Tổng Thống xuống hầm. Tại sao Tổng Thống lại không chịu… Phải nói rõ cho Tổng Thống biết… Không có gì nguy nhưng phải đề phòng”.
Ông Duệ quay sang tiếp chuyện Tổng tham mưu trưởng. Phía đầu dây bên kia là Trung tá Nguyễn Ngọc Khôi, Tư lệnh lữ đoàn. Lát sau ông Duệ quay lại nói với các sĩ quan:
“Trung tá không thể về được. Bây giờ vẫn chưa họp. Lạ thật. Trung tá Khôi cho moa biết là trên ấy hoàn toàn yên tĩnh”. Một lát sau ông Duệ gọi lại lên Gia Long và được trả lời: “Mời Tống thống xuống hầm nhưng không thấy Tổng Thống nói gì… Trên này hoàn toàn yên tĩnh… Thiếu tá Lạc đang có mặt trong dinh, có cả ông Bí thư Trần Sử”.
Kế hoạch đảo chính đã được hoàn tất trong vòng hơn một tuần lễ mà đầu não vẫn là Trung tướng Trần văn Đôn. Đại tá Nguyễn Hữu Có lãnh trách nhiệm giao liên, móc nối và tổ chức. Với cương vị Tư lệnh phó quân đoàn III, phụ tá cho tướng Đính nên mọi sự giao tiếp và di chuyển của Đại tá có trong phạm vi quân đoàn III đều được dễ dàng. Hơn nữa, Giám đốc nha An ninh quân đội thì đã theo phe đảo chính rồi nên vấn đề tổ chức càng thêm dễ dàng và bảo mật đến mức độ tối đa. Theo tiết lộ của Trung tướng Nguyễn Hữu Có trên báo Công Luận số đặc biệt ngày 1-11-1970 thì ngày 15-10-1963 ông đã hỏi thẳng Trung tướng Dương văn Minh về kế hoạch đảo chính và xin chỉ thị thì Trung tướng Minh trả lời: “Anh có quân, cố tổ chức nắm cho được các đơn vị đi”. Vẫn theo Trung tướng Có vì biết ông chống Tổng Thống Diệm đã từ lâu nên khi đến thăm tướng Đính, tướng Đính đã bất ngờ hỏi: “Toa chịu thề với moa không? Hễ moa chết thì toa phải chết theo, còn toa có chết thì moa cũng phải chết theo” – Khởi điểm từ bất ngờ đó hai ông Đính, Có kết hợp cùng nhau để thực hiện kế hoạch.
Đại tá Có xuống Bình Dương – bản doanh bộ Tư lệnh sư đoàn 5 – móc nối được Đại tá Nguyễn văn Thiệu. Ông lại xuống Mỹ Tho, bản doanh sư đoàn 7 móc nối được với Đại tá Tư lệnh phó sư đoàn này cùng một số sĩ quan thuộc khu chiến thuật Tiền Giang, trong đó có Thiếu tá Nguyễn Viết Thanh, Trung đoàn trưởng trung đoàn 10 tại Cao Lãnh, Kiến Phong, Thiếu tá Lý Tòng Bá, Chi đoàn trưởng chi đoàn Thiết Giáp.
Theo bút ký của Trung tướng Nguyễn Hữu Có, trong bữa cơm trưa tại dinh Tỉnh trưởng Định Tường ngày 28-10 vì sơ suất nên tin âm mưu đảo chính bay về Sài Gòn.
Đêm 28-10, ông Nhu đã biết được đầy đủ chi tiết về việc Đại tá Có lên Bình Dương và xuống Mỹ Tho âm mưu móc nối đảo chính. Một phiên họp khẩn cấp được triệu tập trong văn phòng ông Nhu với sự tham dự của Đại tá Tung và hai viên chức cao cấp của ngành tình báo và ngành Cảnh sát đặc biệt. Ông Nhu nghe các viên chức liên hệ kiểm điểm tình hình và đi đến một kết luận vững chắc: “Phe đảo chính không có quân thì không thể làm gì nổi”. Cho đến lúc này thì ông Nhu đã có đủ dữ kiện để biết rõ phe đảo chính gồm tướng Đôn, Kim, Minh, Xuân, và một số sĩ quan mà ông Nhu cho là họ thuộc thành phần Đại Việt.
Biết rõ Đại tá Có cùng tướng Đôn, Kim âm mưu đảo chính nhưng ông Nhu vẫn không ra tay trước. Có lẽ ông muốn quăng một mẻ lưới lớn. Đại tá Tung cũng như cơ quan tình báo được chỉ thị của ông Nhu là phải tuyệt đối là như không hề hay biết việc Đại tá Có xuống Mỹ Tho và lên Bình Dương móc nối hai sư đoàn 5 và 7 bộ binh để đảo chính.
Ngày 31-10, Tổng Thống Diệm và ông Nhu mới chính thức báo tin cho Trung tướng Đính biết việc Đại tá Có âm mưu đảo chính và chỉ thị phải điều tra ngay để tìm ra manh mối hòng có thể ra tay hành động theo kế hoạch Bravo mà tướng Đính vẫn nắm trọn quyền. Nhưng tướng Đính đã chính thức tham gia phe đảo chính từ ngày 25-10.
Tướng Đính cũng như tướng Đôn đều báo cáo với Tổng Thống Diệm và ông Nhu là đã biệt giam Đại tá Có và đang tra khảo, nhưng thực ra, Đại tá Có được giữ kín trong văn phòng Tư lệnh quân đoàn III. Đại tá Có trải qua một ngày đêm trong cảnh toát mồ hôi hột – Văn phòng Tư lệnh quân đoàn III được canh phòng nghiêm ngặt, nội bất xuất ngoại bất nhập – 11 giờ đêm ngày 31-10, tướng Đôn đến quân đoàn III gặp tướng Đính và Đại tá Có ông cho biết vì Đại tá Có làm lộ bí mật ở Mỹ Tho nên phải hành động gấp vào ngày mai tức ngày 1-11.
Trung tướng Có qua thiên bút ký đã mô tả: “Thứ sáu ngày 1-11-1963. Sau một đêm thức trắng, Trung tướng Đính có vẻ mệt. Tôi cũng không khỏe gì hơn. Nhưng thì giờ càng qua mau thì tôi càng mừng. Ăn điểm tâm xong là 7 giờ tôi vui vẻ nói với tướng Đính: chỉ còn 6 giờ nữa thôi mong rằng mọi việc sẽ êm đẹp. 8 giờ, Trung tướng Đôn tới gặp tướng Đính và tôi. Thấy tôi, ông lại cười và chỉ mặt nói “Tổng Thống bảo tôi lại coi ông Đính đập thằng Có ra sao”. Tướng Đính dặn dò Đôn về trình báo là đã “đập gần chết rồi, hiện còn nhốt trong nhà tắm, đợi tỉnh lại rồi sẽ khai thác”.
Tướng Đính cũng trực tiếp báo cáo như vậy với Tổng Thống Diệm và ông Nhu.
12 giờ Đại tá Có từ biệt tướng Đính ra phi trường Tân Sơn Nhất và ở đây ông dùng trực thăng của quân đội Mỹ bay thẳng xuống Mỹ Tho. Cũng từ giờ đó, tướng Đính bắt tay vào đảo chính. Quân đoàn III cấm trại 100% – Kế hoạch Bravo I biến thành Bravo II. Nhưng 6 đại đội của lực lượng đặc biệt đi hành quân tại Long Thành, theo kế hoạch Bravo I lực lượng này sẽ quay về Sài Gòn nhưng với Bravo II thì lực lượng nòng cốt này bị cô lập ngay.
Rồi một loạt đại bác nổ vang, rất trúng đích. Tiếng gạch ngói đổ vỡ, tiếng người lao xao… rồi lại một loạt khác… Tiếng nổ xé tan bầu không khí oi ả của buổi trưa. Trung sĩ Hòa ước lượng lúc này thành Cộng Hòa phải ăn 20 trái. Từ phía xa vài loạt tiểu liên nổ. Quanh thành Cộng Hòa vẫn yên tĩnh ngoài tiếng đại bác nổ và tiếng chân người chạy.
Thấy đại bác nổ rát quá, Thiếu tá Duệ hét: “Anh em thủy quân lục chiến tìm chỗ mà núp chứ cứ đứng khơi khơi như thế, chết hết bây giờ”. Một toán thủy quân lục chiến chạy qua đường tìm chỗ ẩn đại bác trong mấy tòa nhà thuộc Tổng nha cải huấn và Bộ Xã hội hiện nay. Trong sân Hoa Lư, thủy quân lục chiến tụ tập cả trên khán đài. Súng vất ngổn ngang trên sân cỏ, Thiếu tá Duệ nói với Trung úy Bảo: “Cậu sang bảo tụi nó tìm chỗ an toàn mà nấp. Vô phước tụi nó phải đại bác thì tôi sẽ lãnh đủ”.
Một Chuẩn úy thủy quân lục chiến từ bên Hoa Lư băng qua, ông này nói: “Ông già của tôi có đây không?”. Thì ra, ông già của vị sĩ quan này là thượng sĩ trong ban quân nhạc của Lữ đoàn. Viên chuẩn úy nói: “Trung đội em ở bên kia đường coi bộ nguy hiểm quá”. Trung úy Bảo đề nghị: “Cậu cho trung đội qua đây… Ở đây nếu pháo binh mần dữ như vừa rồi thì cũng không sợ, thiếu gì chỗ an toàn”. Viên chỉ huy nghe có lý, trở lại vị trí cũ dẫn cả trung đội vào thành Cộng Hòa (sau khi thành này thất thủ trung đội của ông ta được đồng hóa với lữ đoàn phòng vệ và bị coi là thành phần chống đảo chính).
Trong giờ phút đó, Thiếu tá Duệ cố tìm cách bắt liên lạc với Trung tá Khôi nhưng không có kết quả ông Duệ lại gọi về dinh Gia Long. Trên dinh cho biết vắn tắt: “Các tướng lãnh có lẽ bị phe đảo chính bắt cóc… Trên này đủ mặt Châu, Lộc, Hoàn, Thọ, Bằng. Ông Võ văn Hải cũng vừa tới, ông đang ở trong phòng Tổng Thống”.
Từng loạt đại bác nổ vang rền. Lần pháo kích này được coi là ác liệt nhất. Lính của lữ đoàn có 5, 6 người bị thương, 2 người chết. Đại đội của Đại úy Thinh lúc ấy đã tản mát sang phía bên kia đường hay nấp sau bờ tường sân Hoa Lư. Trung úy Bảo gọi Đại úy Thinh: “Toa cho lính của toa tản đi chỗ khác, nấp ở sau bờ tường như thế chết cả lũ bây giờ”. Đại úy Thinh ra lệnh cho di tản ngay… khoảng 15 phút sau khi phi cơ bay tới rà qua sân Hoa Lư rồi quạt đại liên ào ạt về phía bờ tường mà vừa rồi toán thủy quân lục chiến dùng làm nơi ẩn nấp. Trung sĩ Hòa nói: “Hú vía, chút xíu thì chết gọn”. Thinh nói với Trung úy Bảo: “Cảm ơn Trung úy không lanh trí thì bọn này bỏ mạng hết”. Phi cơ xuất hiện oanh kích có một lần đó.
Đánh nhau bằng mồm
Trung úy Bảo có thể yên tâm và vững tin vào đại đội thủy quân lục chiến của Thinh.
Nhưng vẫn còn một đại đội nữa. Lữ đoàn liên binh cho hai xe thiết giáp tiến về ngã tư Đinh Tiên Hoàng – Phan Đình Phùng, Trung úy Bảo đi sau cùng với hai sĩ quan lính thủy quân lục chiến… Trung úy Bảo dùng hai thủy quân lục chiến này nhằm làm nản lòng đại đội của Châu. Lúc ấy đại úy Châu đứng ở gốc cây ngay trước cư xá Air Việt Nam.
Đại úy Châu cầm khẩu súng lục trên tay còn tay kia thì cầm trái lựu đạn. Lính của Đại úy Châu đều chĩa thẳng mũi súng về phía Trung úy Bảo. Tuy vậy, Trung úy Bảo rất bình tĩnh và phía đằng sau Bảo là hai thiết giáp và lính của Lữ đoàn. Trung úy Bảo lên tiếng: “Tất cả anh em binh sĩ đều phải quay mũi súng ra ngoài không thì sẽ bị tiêu diệt ngay”. Nhân chứng hỏi Đại úy Châu: “Ai bảo các anh về đây? Các anh về đây để làm gì?”. Trung úy Bảo nghĩ trong bụng, Châu cũng sẽ trả lời như Thinh nhưng không Đại úy Châu nói lớn tiếng: “Chúng tôi về đây để lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Chúng tôi không thể chịu được áp bức”.
Trung úy Bảo nói gay gắt: “Anh lại đây”. Đại úy Châu cũng gay gắt không kém: “Anh lại đây”. Châu vẫn cần lăm lăm trái lựu đạn. Trung úy Bảo cầm chiếc loa. Bảo nói: “Anh muốn chết bỏ mạng à”. Châu lại nói: “Anh muốn tự tử sao đây”. Hai bên vẫn lời qua tiếng lại. Đang lúc đó thì có phi cơ xẹt qua quạt từng loạt đạn, Trung úy Bảo tiếp tục tấn công bằng lời: “Anh coi… Đại đội của Thinh nó hàng rồi. Chung quanh đây là quân của lữ đoàn… Anh nhìn coi… chỉ cần khẩu đại liên trên lầu kia làm một loạt chéo cánh sẻ cũng cho các anh đi đời”. Trung úy Bảo lại nhấn mạnh: “Tốt hơn hết các anh nên hàng đi cho yên chuyện”… Một sĩ quan khác lên tiếng: “Hàng thế nào được. Tụi tôi về đây lật đổ chế độ độc tài gia đình trị”. Trung úy Bảo đáp: “Muốn gia đình trị hay cái gì cũng được. Bây giờ không nói chuyện đó, muốn sống thì hàng đi!”.
Lúc ấy Đại úy Châu bắt đầu dịu giọng: “Hàng thì tôi không hàng nhưng tôi sẽ tập trung lính lại. Được không?”. Trung úy Bảo vui vẻ trả lời: “Thế cũng được bây giờ anh cho lính của anh tập trung tất cả vào khu hàng không…”. Châu lại hỏi: “Còn các anh thì sao?”. “Cho thiết giáp và lính của anh lui về vị trí cũ tức là phía đường Hồng thập tự”.
Thế là hai đại đội thủy quân lục chiến đều án binh bất động. Phía lữ đoàn giải giới chờ khi hữu sự sẽ ra tay. Bộ chỉ huy của lữ đoàn phòng vệ hoạt động không ngừng.
Cho đến lúc ấy thành Cộng Hòa đã ăn hàng trăm trái 105 ly. Bộ chỉ huy Liên đoàn phòng vệ không thể nào liên lạc được với Bộ Tổng tham mưu. Thượng sĩ Nguyễn thuật lại: “Ông Duệ phải gọi qua phòng quân cảnh của Bộ Tổng tham mưu nhờ liên lạc vì ông có người bạn thân ở trong phòng này nên mới nắm được “đầu dây” liên lạc. Thiếu tá Duệ mới hỏi tình hình liên lạc trên ấy ra sao.
Phía đầu dây trả lời rõ rệt. “Không thấy có gì quan trọng cả. Các ông tướng đang họp. Hiện giờ Bộ Tổng tham mưu không có lực lượng nào khác hơn mấy chú tân binh ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung”. Thượng sĩ Nguyễn báo cáo lại và đề nghị: “Làm tới đi Thiếu tá. Hốt về đây cho xong chuyện…”. Các sĩ quan Tham mưu bàn định: “Nếu được lệnh thì chỉ cần một chi đội thiết giáp một đại đội ta sẽ tiến dọc theo đường Công Lý. Thủ thì nguy, công mới thành”. Ông Duệ gật đầu cho là phải. Phía đầu dây bên kia, Đại úy tùy viên Lê Công Hoàn đáp: “Tổng Thống không trả lời. Tổng Thống ra lệnh chỉ được phép nổ súng khi nào bị tấn công…”. Ông Duệ và một số sĩ quan Tham mưu đành lắc đầu thở dài, ông lại tiếp tục cuộc điện đàm: “Toa thưa lại với ông Tổng Thống cứ cho phép tụi moa đem lực lượng lên đó hốt cho hết, như thế là xong”. Bên đầu dây bên kia, Đại úy Hoàn trả lời: “Tổng Thống nhất định không chịu”… Thượng sĩ Nguyễn lắc đầu quay sang bảo ông Duệ: “Thiếu tá thử nói lại lần nữa xem sao… Thiếu tá nói với Đại úy Hoàn trình bày rõ với Tổng Thống là bọn mình chỉ lên Bộ Tổng tham mưu mời các tướng lãnh về dinh họp thôi”. Lúc ấy quãng 5 giờ chiều”.
Dưới hầm
Vào giờ ấy tại dinh Gia Long, mấy sĩ quan tùy viên vẫn ngồi kế bên Tổng Thống Diệm. Trong dinh vẫn còn ba đường dây liên lạc. Tổng Thống Diệm ở dưới hầm… Ông Nhu lại cho người mang radio xuống cho Tổng Thống nghe để “Cụ rõ thục hư” (lời ông Nhu). Nhưng radio mang xuống hầm lại không nghe được vì không có dây ăng ten từ phía trên xuống. Rồi nhạc quân hành vang vang. Các tướng lãnh lần lượt xướng danh. Những giọng phát ngôn viên nhấn mạnh từng điệp khúc “Lật đổ chế độ độc tài gia đình trị”… Tổng Thống Diệm im lặng nghe. Rồi ông Nhu từ trên lầu bước xuống. Hai anh em ông Diệm đều im lặng.
Sĩ quan tùy viên vặn cho nhỏ hơn. Nhạc quân hành mỗi lúc một dồn dập. Bốn sĩ quan tùy viên có mặt ở dinh đều là những người quanh năm suốt tháng trong dinh và đã trải qua nhiều biến cố như vụ ám sát hụt ở Hội chợ kinh tế Ban Mê Thuột, vụ đảo chính 11-11-1960, vụ ném bom ngày 27-2-1962… Do đó không lấy gì làm xao xuyến cho lắm. Trái lại mỗi lần như vậy họ cảm thấy sống gần Tổng Thống Diệm hơn. Nhạc quân hành vẫn vang lên dồn dập. Ông Nhu thì trầm ngâm, giọng nhát gừng: “Mỹ nó bảo làm vậy thì làm vậy…”
Nói xong ông Nhu lại trở lên lầu. Trong khoảng thời gian đó, Đại sứ Cabot Lodge gọi điện thoại nói chuyện riêng với Tổng Thống Diệm. Đây là lần thứ hai kể từ lúc 2 giờ chiều. Bốn sĩ quan tùy viên vẫn đứng ngồi bên cạnh ông Diệm. Không ai rõ ông Lodge nói gì… Tổng Thống Diệm trả lời bằng tiếng Pháp đại ý: “Tôi không chấp nhận… Cảm ơn… Cảm ơn… chúng tôi sẽ thu xếp với nhau… Tôi không tin các tướng đòi hỏi như thê. Cảm ơn, tôi không nhận điều kiện nào hết… tôi là Tổng Thống nước Việt Nam Cộng Hòa!!”. Trước khi buông máy, Tổng Thống Diệm nói rất chậm, nhấn mạnh từng tiếng một: “Je vous remercie sincèrement… Je ne quitte jamas mon People…”.
Tổng Thống Diệm buông máy nhìn một lượt bốn sĩ quan tùy viên rồi mỉm cười. Ông lại châm thuốc hút. Ông nhìn Đại úy Hoàn khẽ gật đầu đắc ý về một việc gì rồi lại mỉm cười. Ông vẫn ngồi trên chiếc ghế tựa hiệu Marconi.
Trước đó bộ chỉ huy lữ đoàn tại thành Cộng Hòa, Thiếu tá Duệ nhận được lệnh từ dinh Gia Long phải chiếm cho kỳ được Đài phát thanh.
Đảo chánh giả
Từng loạt đại bác nổ rồi im. Ông họ Trần (cựu Bộ trưởng) mở cửa sổ nhìn ra đường… Một vài chiếc taxi lướt qua. Con đường Hồng Thập Tự vẫn yên ắng, không có một bóng dáng quân nhân nào. Vợ ông nói: “Đảo chánh giả mình ạ. Cứ mặc người ta, anh đừng có xớ rớ”. Cách đó hơn một tuần ông Trần có vào dinh Gia Long thăm riêng Tổng Thống Diệm, lấy cớ đến chúc mừng Tổng Thống nhân ngày 23-10. Ông Trần có gặp tướng Đôn ở hành lang dinh. Ông hỏi tướng Đôn: “Tình hình quân sự dạo này có khá không ông tướng?”. Ông Đôn ghé tai nói nhỏ: “Thưa ông bi quan lắm… Việt cộng mở mặt trận khắp nơi. Người Mỹ như muốn bỏ chúng ta”. Ông Trần khẽ nhún vai mỉm cười. Hôm ấy ông gặp cả tướng Đính, vẫn vẻ vồ vập niềm nở, tướng Đính nắm chặt hai tay ông.
- Tình hình vùng 3 thế nào?. Ông Trần hỏi. Ông Đính khoa tay: “Khả quan lắm. Còn Ba Đính ở đây thì Việt cộng không làm ăn được gì hết. Đàn anh cứ tin lời Ba Đính đi!”.
Ông Trần trở vào phòng nghe radio. Bỗng nhiên chuông điện thoại reo vang. Đầu dây bên kia, ông Smith một viên chức CIA của tòa Đại sứ Mỹ gọi đến và nói: “Tình hình rất nguy hiểm tuy nhiên ông Đại sứ Lodge sẽ tìm cách để tránh đổ máu. Ông Đại sứ muốn tôi “tổ chức” một cuộc tiếp xúc riêng giữa ông Đại sứ với ông ngay chiều nay”. Viên chức Mỹ cho biết sẽ tới gặp ngay ông Trần.
Súng vẫn nổ lẻ tẻ. Tiếng xe thiết giáp chuyển dịch rất gần. Ông Trần gọi điện thoại cho ông Nguyễn Đình Thuần hai, ba lần, người nhà nói là ông đi vắng. Lúc sau Smith đến thăm ông. Câu đầu tiên của ông Trần gặp Smith: “Thế nào, có đảo chính thật hay không?”. Viên chức này đáp: “Làm thế nào hơn được, cho đến giờ này ông vẫn chưa được biết?”. Ông Trần rút thuốc hút đáp: “Tôi làm sao có thể biết được. Ông Minh và ông Đôn làm vụ này ông có tin là thành công không?”. Viên chức Mỹ nói với giọng cả quyết: “Tôi không tin họ đủ yếu tố thành công. Bây giờ chỉ là vấn đề thu xếp cho ông Ngô Đình Diệm qua Nhật và ông Nhu đi Châu Âu”.
Đài phát thanh Sàigòn
Khi Trung úy Bảo đến sở thú gặp Đại úy Lễ và xin cho thiết giáp đi theo lên đài, ông Lễ cho biết: “Ở đây bọn này làm gì có thiết giáp. Vỏn vẹn có 80 mạng thiết giáp ở đâu ra?”. Trung úy Bảo gọi về bộ chỉ huy xin chỉ thị mới nhưng Thiếu tá Duệ dằn giọng: “Dù không có thiết giáp cũng phải liều mạng mà đi. Phải sống chết với cuộn băng đó”. Cũng giờ phút này trên dinh Gia Long chia ra làm ba bộ phận. Bộ chỉ huy quân sự đứng đầu là Thiếu tá Lạc, Thiếu tá Hưởng. Bộ phận đầu não vẫn là ông Nhu bên cạnh là ông Cao Xuân Vỹ. Bộ phận bên cạnh Tổng Thống Diệm có vẻ bình thường. Theo Đại úy Hoàn: “Bọn tôi vẫn vui như Tết… quây quần quanh Tổng Thống có tôi, ba sĩ quan tùy viên khác và ông già Ân”. Lúc đầu thì có y sĩ Đinh Xuân Minh, Trung tá Kỳ Quan Liêm, ông Võ văn Hải đến thăm ông Diệm rồi ra về, ông Quách Tòng Đức cũng thế. Tổng Thống Diệm hút thuốc lá liên miên. Theo Đại úy Hoàn lúc đầu Tổng Thống Diệm dao động sau bình tĩnh ngay. Ông Nhu thì trầm ngâm, mặt đen xạm, trán nhăn nheo. Ông gọi điện thoại cho Bộ trưởng Công dân vụ Ngô Trọng Hiếu: “Toa liên lạc ngay lại với các ông Bộ trưởng, dặn các ông Bộ trưởng là phải ẩn một nơi đừng lên Bộ Tổng tham mưu tụi nó đánh lừa đó”.
Về việc chiếm Đài Phát thanh thì Trung úy Bảo, Trung sĩ Trí liều mạng vọt xe qua ngã Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhìn từ xa Trung úy Bảo đã thấy nòng một khẩu đại bác đang chúc xuống ở thế bắn ngang… khẩu đại bác này đặt trong vòng thành Nha An ninh quân đội. Bảo biết ý nên ra lệnh cho tài xế rồ hết ga vọt bạt mạng. Một tiếng nổ véo, chiếc xe Jeep của Bảo bị bắn nổ lốp sau. Chiếc xe chao đi chao lại như con hổ bị thương. Nhờ tài xế vững tay lái nên xe không bị lật, Bảo và Trí nhảy xuống xe và chạy thục mạng về phía Đài Viễn thông. Hai người leo qua tường nhảy bắn vào cây chuối, ông Bảo té nhào nằm ngất xỉu trong ít phút. Hai người lại hè nhau chạy thục mạng về phía Đài rồi lẩn vào phía cửa sau. Cửa vẫn đóng kín mít. Hai người lại chạy ngược ra cửa trước. Một sự im lặng ghê rợn chết chóc. Một vài người lính của lữ đoàn giơ tay vẫy ông Bảo chạy về phía đó. Trung úy Xuân đang đứng trước cửa tiệm phở 44, phố xá vắng teo.
Một vài cánh cửa sổ hé mở, dân chúng ngấp nghé quan sát. Hai thiết giáp của lữ đoàn đậu phía trước đài khoảng cách khá xa.
Trung úy Bảo chưa hiểu rõ tình hình. Ông Xuân nói: “Tụi nó đang ở trên đó”. Bảo hỏi: “Sao không đánh vô, còn chờ gì?”. Xuân ngập ngừng lắc đầu. Cánh quân của Trung úy Xuân trước đó đã lấy được Đài một cách ngon lành nhưng lại chỉ chiếm được tầng dưới.
Sau này, Đại tá Phạm Ngọc Thảo thuật lại: Lúc ấy ông chỉ có vào khoảng trên một tiểu đội. Khi thiết giáp và lực lượng của lữ đoàn kéo đến lính của ông Thảo rút hết lên lầu. “Thấy các toa đến, tụi này hoảng quá đi. Lúc ấy chỉ cần một trung đội cứ xông vô đại, tụi toa đành khoanh tay chịu chết”.
Trên lầu, dưới nhà
Lúc ra đi, Trung úy Xuân cũng như ông Bảo, ông Trí đều được dặn dò:
- “Thay đổi được tình hình hay không là do chỗ chiếm được hay không chiếm được Đài Phát thanh”.
Từ dinh Gia Long ông Nhu bóp đầu nhăn trán vì Đài Phát thanh vẫn chưa chiếm được. Ông bảo một sĩ quan tùy viên:
“Phải tìm mọi cách chiếm cho bằng được… Nếu không các địa phương sẽ mất hết tinh thần. Cứ để đài Phát thanh nói mãi như thế thì các đơn vị rồi đây sẽ theo bọn nó hết”.
Trung úy Xuân gọi về thành Cộng Hòa cho biết: “Bọn nó rút hết lên lầu rồi. Tầng dưới bỏ không”. Một sĩ quan đề nghị dùng hỏa lực tấn công trước, bắn cho sập lầu hai. Trung úy Bảo không đồng ý: “Mục đích của mình là chiếm Đài để cho phát thanh ngay lời hiệu triệu của Tổng Thống Bắn sập, hư hết máy móc thì còn làm được cái gì”.
Mọi người cứ dùng dằng mãi, ông Nhu thì trông ngóng. Giữa lúc ấy tại góc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm – Phan Đình Phùng có hai ba xe Jeep của Trung tâm Vạn Kiếp (Vũng Tầu) thuộc quyền Trung tá Vĩnh Lộc. Trung úy Bảo thấy khả nghi, tiến lại hỏi: “Trung úy Thơm phải không? Đi đâu mà coi bộ quân lương mang theo đầy đủ vậy?”. (Thơm là sĩ quan phòng IV của Trung tá Vĩnh Lộc). Ông Thơm nói :
“Bọn này đi công tác…”. Sau này Trung úy Bảo mới biết, toán quân của Thơm cũng có phận sự về chiếm Đài Phát thanh. Lúc ấy tại Bộ chỉ huy thành Cộng Hòa, Thiếu tá Duệ nhận được lệnh tại dinh Gia Long: “Phải hết sức bình tĩnh tránh đổ máu với thủy quân lục chiến.. Phải chờ lệnh Tổng Thống.. đang thu xếp, điều cần là phải lấy lại được Đài Phát thanh”. Bộ chỉ huy thành Cộng Hòa gọi về dinh Gia Long: “Xin Tổng Thống qua dinh Độc Lập… Tránh pháo kích… Nếu Tổng Thống cho lệnh xin bỏ ngỏ thành Cộng Hòa và rút hết về dinh Độc Lập”.
Đại úy Lê Cung Hoàn tại dinh Gia Long cho Thiếu tá Duệ biết: “Kể từ 5 giờ chiều trong dinh không c̣n một nhân vật dân sự nào. Theo lời Tổng Thống mấy nhân vật dân sự đều rút hết sau khi vấn an Tổng Thống”.
Trong cơn đau
Đại úy Hoàn hỏi Đại úy Thọ: “Ông chú của cậu (Đại tá Đỗ Mậu) đã theo đảo chính rồi mà… cậu tính thế nào?” Thọ còn ngơ ngẩn chưa biết nói sao thì Đại úy Hoàn lên tiếng: “Việc đó đã xảy ra như thế, thôi bây giờ mày về nhà đi. Nếu đảo chính thành công thì không nói làm gì. Nếu thất bại mày yên trí có tao ở trong này đảm bảo cho mày”. Đại úy Đỗ Thọ suy nghĩ một lát rồi mới nói: “Tôi chả đi đâu hết sống chết cũng ở bên cạnh Tổng Thống Chú tôi, ông ấy phản Tổng Thống thì mặc ông ấy, tôi đâu có dính dấp gì. Mỗi người mỗi phận”. Thọ nói tiếp với Hoàn: “Chị ruột tôi theo Cộng sản tôi còn chả bị Tổng Thống nghi ngờ huống chi ông Đỗ Mậu… Tôi không làm chính trị, cũng chẳng đảng phái chi hết. Tôi theo Tổng Thống là tôi theo trung thành đền phút chót”. Đỗ Thọ mồ côi mẹ, chỉ có hai người anh em trai mà anh ta phải nuôi dưỡng. Chị ruột Đỗ Thọ là một người có nhan sắc thì đã theo Cộng sản.
Lúc đầu, khi nổ súng, người trong dinh đã có ý nghi ngờ Đỗ Thọ nhưng sau đó thì không ai quan tâm. Thọ tâm sự với Hoàn: “Nếu tôi theo phe đảo chính thì tôi ở nhà chứ mang thân vào đây làm gì?”.
Cùng vào khoảng giờ này (5 giờ ngày 1-11) Bộ chỉ huy tiểu đoàn 34 biệt động quân đang tập trung ở bến Tầu Sài Gòn đợi lên đường đi Dục Mỹ, bất ngờ nhận được lệnh của dinh Gia Long phải cấp tốc đem quân về bảo vệ Tổng Thống Nhằm vào ngày lễ, đơn vị lại ở trong tình trạng chờ ngày lên đường nên các sĩ quan không có mặt tại Bộ chỉ huy ngoài Chuẩn úy Anh. Nhận được lệnh chuẩn úy Anh hoàn toàn bối rối vì không biết phải làm như thế nào? Tiểu đoàn trưởng là Đại úy Sơn Thương lại không có mặt tại đơn vị. Rồi muốn tiến quân thì xe đâu mà chuyển. Dinh Gia Long lại ra lệnh: “Phải tìm mọi cách, hãy trưng dụng tất cả xe cộ của thông tin vận binh hiện đang có mặt tại bến tàu. Nếu không thì trưng dụng taxi, xe tải…”. Chuẩn úy Anh vác súng đến thông tin vận, mặt khác cho tiểu đoàn tập họp.
Do một tình cờ hiếm hoi, ông Anh là một Chuẩn úy lại trở thành đơn vị trưởng “tạm thời” của Tiểu đoàn. Chuẩn úy Anh cảm thấy vô cùng hào hứng vì bỗng nhiên Anh lại có cơ hội ngàn vàng để thi thố tài năng. Sau khi đã trưng dụng được xe và tập hợp xong Tiểu đoàn, chuẩn úy Anh gọi lên dinh Gia Long xin cho thiết giáp xuống mở đường.
Khoảng 6 giờ, lính biệt động quân của tiểu đoàn 34 đã lố nhố quanh vùng Catinat, Lê Lợi cho đến lúc ấy Đại úy tiểu đoàn trưởng và các sĩ quan đã có mặt đầy đủ tại đơn vị và tiến hành cuộc hành quân tiếp ứng dinh Gia Long. Sơn Thương nguyên là một sĩ quan nhảy dù và rất quen với chiến trận, cho nên, cuộc tiến quân đối với ông ta coi như cuộc đi chơi dạo. Viên Hạ sĩ cận vệ của đại đội trưởng, tay cầm súng, chạy lao lên hàng đầu.
Cánh quân đang lặng lẽ nép hai bên hè phố tiến về phía đường Lê Thánh Tôn. Viên hạ sĩ nói với Trung úy đại đội trưởng: “Lần này cứu được Tổng Thống thế nào thầy trò mình cũng có cái mề đay đeo chơi”. Cánh quân được lệnh dừng lại. Hai người ngồi dưới gốc cây chuyện trò như không có gì quan trọng.
Hạ sĩ Bồng tâm sự: “Làm lính trong Dinh cực lắm anh ơi. Người anh tôi cũng ở trong đó.. chỉ muốn xin ra đơn vị chiến đấu mà không được. Mỗi tháng cho tôi thêm mấy ngàn tôi cũng xin chịu… Ai dại gì chôn chân trong bốn bức tường. Lại không được ân huệ gì. Tôi thí dụ trường hợp anh chàng Thượng sĩ Vệ người bạn của anh tôi: Cái luật gia đình của bà Nhu gì mà kỳ cục quá. Thượng sĩ Vệ trong lữ đoàn phòng vệ Phủ Tổng Thống lại là nạn nhân của luật gia đình. Nhân dịp biệt phái ra Huế anh chàng Vệ tằng tịu với một cô gái sông Hương… Nói đúng hơn anh ta bị người đẹp cho vào mê hồn trận. Sau đó, gia đình nàng bắt lập hôn thú nếu không sẽ làm lớn chuyện. Lính trong dinh rất sợ những vụ đó sẽ đến tai Tổng Thống cho nên anh chàng Thượng sĩ Vệ phải nhắm mắt. Rồi ít lâu bị đổ bể, anh ta bị truy tố ra tòa án quân sự Huế về tội song hôn. Tòa phạt ba tháng tù và bị giam ở quân lao Mang Cá Nhỏ. Mãn tù trở về lực lượng phòng vệ, lữ đoàn cho giải ngũ lập tức. Hiện giờ Vệ đang bị thất nghiệp, giải ngũ lại mang án thì làm sao kiếm được công việc!”. Hạ sĩ Bồng đang chuyện trò thì có lệnh di chuyển, một toán biệt động quân tiến lên… rẽ vào đường Lê Thánh Tông để tiếp ứng dinh Gia Long. Bỗng một loạt đại liên nổ vang. Bốn biệt động quân ngã quỵ.
Thấy lính trong dinh nổ bất tử làm thiệt bốn mạng, Đại úy Sơn Thương nhào lên vẫy tay. Phía biệt động quân hô lớn “Quân mình đó đừng có nổ súng, biệt động quân về cứu Tổng Thống”. Lúc ấy lính trong dinh mới vỡ lẽ.
Tiểu đoàn của Sơn Thương được chỉ định về bố trí tại vùng bưu điện. Cả đêm 1-11 tiểu đoàn này bất động vì không có lệnh đánh ai cả. Phía quân đảo chính cũng không tấn công. Phía dinh Gia Long cũng chỉ cho biết “cứ nằm đó đợi lệnh”. Phe đảo chính được mật báo có tiểu đoàn 34 biệt động quân đang án ngữ vùng bưu điện nên tờ mờ sáng ngày 2-11, tướng Đôn viết một thư tay gởi cho Đại úy Sơn Thương. Đại ý chiêu hồi Sơn Thương đứng về phe đảo chính. Dĩ nhiên lúc ấy tiểu đoàn biệt động quân theo ngay vì mọi sự đã xong. Sau này, các tướng tá tham gia đảo chính đều được tưởng thưởng mỗi người một cấp. Sơn Thương thì không. Trong thư gởi cho Đại úy Sơn Thương tướng Đôn có hứa tưởng thưởng cho biệt động quân nếu tiểu đoàn này theo đảo chính do đó Sơn Thương khiếu nại. Đại úy Sơn Thương được thỏa mãn ngay để gọi là công lao đảo chính được chia đều. Riêng có Chuẩn úy Anh thì lao đao… Sau phải lãnh mấy chục ngày trọng cấm vì tội dùng khí giới để áp đảo và trưng dụng xe của thông vận binh.
8 giờ tối, Thiếu tá Duệ ở thành Cộng Hòa nhận được cú điện thoại của Tổng Thống Diệm. Đại ý Tổng Thống ngỏ lời cảm ơn sự trung thành của các quân nhân thuộc lữ đoàn. Tổng Thống Diệm nói: “Vào giờ phút quyết liệt này Tổng Thống mới rõ ai là người tốt, ai là người xấu. Tổng Thống hêí lòng cảm ơn các con đã bảo vệ Tồng thống”. Sau đó thành Cộng Hòa nhận được tin Tổng Thống Diệm và ông Nhu đã ra đi.
Bây giờ thì như rắn mất đầu, biết nghe lệnh ai? Trước đây sĩ quan cao cấp trong lữ đoàn đã hỏi Tổng Thống Diệm nếu khi có biến, gặp đến lúc không có Tổng Thống và ông Nhu thì hỏi lệnh ai, họ được chính Tổng Thống Diệm căn dặn: “Khi có biến nếu không có Tổng Thống hay ông Nhu thì xin lệnh của tướng Đính hay tướng Khiêm”.
Khoảng 9 giờ thành Cộng Hòa bị pháo kích như mưa. Con số bị thương đã lên đến 30 người tức là gần nửa quân số chiến đấu. Thượng sĩ Nguyễn cho biết: “Thiếu tá Duệ cho họp các sĩ quan tại bộ chỉ huy và hỏi ý kiến nên giữ thành hay bỏ thành?”. Một số thì yêu cầu rút lên dinh Gia Long. Nguyễn thì cho rằng: “Cứ ở mãi trong thành sẽ chết hết vì pháo kích”.
Một sĩ quan phòng II lên tiếng: “Nếu ở lại cố thủ chiến đấu thì cũng được, nhưng cho đến giờ phút này có đạo quân nào của phe đảo chính tấn công mình đâu? Vậy thì đánh với ai, chi bằng “chém vè” để tránh pháo kích. Hơn nữa Tổng Thống đã đi rồi còn giữ thành làm chi”. Mấy hạ sĩ quan khác lại cho rắng: “Tuy Tổng Thống đã ra đi nhưng vẫn chưa có lệnh cho bọn mình rút lui, xin Thiếu tá cứ để chúng tôi cố thủ”.
Vào khoảng 11 giờ, thành Cộng Hòa đã hứng chịu khoảng 400 trái 105 ly.
Con số bị thương tăng lên 40 người. Bộ chỉ huy quyết định: “Bỏ ngỏ thành Cộng Hòa tìm cách di tản thương binh, còn ai muốn đi đâu thì đi. Nếu tìm cách lên được dinh Gia Long là tốt nhất”. Lúc ấy mọi người đã kiệt sức vì chưa ăn gì và không có cả nước để uống.
Bộ chỉ huy gọi lên dinh Gia Long yêu cầu Thiếu tá Lạc gởi mấy chiếc thiết giáp xuống để mở đường rút lui. Nhưng dinh Gia Long cho biết: “Không thể xuống được, các lối đều bị thiết giáp của phe đảo chính chặn hết rồi”…
Khoảng 12 giờ, thành Cộng Hòa bỏ ngỏ. Từng tốp, nối đuôi nhau chạy thoát thân dưới làn đạn… trọng pháo. Duy chỉ có bác sĩ Nguyễn Tuấn Anh cùng mấy y tá, một số thương binh ở lại. Cũng có một số quân nhân và hạ sĩ quan gan dạ nhất định không chịu ra đi. Tổng kết từ 1 giờ 30 đến 9, 10 giờ tối có khoảng 45 quân nhân bị thương và 6 người chết vì trọng pháo.
Từ Đà Lạt đợi lệnh
1 giờ 30 ngày 1-11 súng nổ tại Sài Gòn thì cũng ngày giờ đó tại dinh số 1 và số 2 Đà Lạt vẫn yên tĩnh như thường lệ. Khi biết tin ở Sài Gòn có đảo chính, Đại úy Nguyễn Ngọc Hạp cho biết: “Những người gần ông Nhu nhận được tin này không một ai ngạc nhiên. Có thể nói chúng tôi đã chờ đợi cả tháng”. Đại úy Hạp tùy viên của ông Cố vấn Nhu gọi điện thoại thẳng về Sài Gòn, hỏi ông Nhu: “Bây giờ chúng cháu ở trên này phải làm thế nào?”.
Đại úy Hạp buông máy gật gù: “Đợi lệnh”. Ông Hạp nói với sĩ quan: “Ông cố vấn bảo tôi, mọi sự cứ làm như thường lệ”. Tuy nhiên lực lượng phòng vệ trên Đà Lạt cũng lo việc bố trí canh phòng. Buổi chiều ông Hạp gọi điện thoại về Sài Gòn lần nữa. Lần này ông Nhu chỉ nói vắn tắt: “Mọi việc cứ như thường”. Trong tay Đại úy Hạp lúc ấy có bốn thiết giáp với quân số khoảng 50 người.
Ông Hạp mới lên Đà Lạt từ sáng 30, cùng đem theo ba người con ông Nhu gồm Trác, Quỳnh, Lệ Quyên và một chiếc vali. Chiếc vali ấy sau này trở thành “trung tâm” thu hút bao nhiêu cặp mắt tinh đời.
Đại úy Hạp cũng như Trung úy Sung, sĩ quan hầu cận được coi là những người sống gần bà Nhu hằng ngày trong nhiều năm.
Vào ngày 22-10 do một “đường dây” đặc biệt, ông Nhu được loan báo khá đầy đủ về kế hoạch đảo chính do bộ ba Đôn, Kim, Xuân, thực hiện. Đường dây này còn cho biết ngày giờ nào Cabot Lodge sẽ gặp một tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa, ở đâu. Người chung quanh ông cũng lấy làm lạ tại sao Đại tá Tung đã báo cáo: “Phải coi chừng Phạm Ngọc Thảo và Đỗ Mậu”, song Phạm Ngọc Thảo vẫn ra vào văn phòng ông Nhu hàng ngày, nhất là từ trung tuần tháng 10. Một lần ông Nhu nói với chính Trung tá Phạm Ngọc Thảo “Bọn nó thì biết cái gì mà làm… Mỹ nó bảo sao nghe vậy”. Trung tá Phạm Ngọc Thảo ngồi nói chuyện với ông Nhu hàng giờ và một ngày có khi Trung tá Thảo xin gặp ông Nhu hai ba lần.
Giới thân cận nghe tin Trung tá Thảo sắp thay Đại tá Mậu làm Giám đốc Nha An ninh quân đội mà trước đây đáng lẽ do Trung tá Huỳnh được cử thay thế. Giới thân cận ông Nhu vẫn thường nhắc nhở với nhau: “Coi chừng ông Mậu nghe. Khả nghi”. Khí nghe cuộc cấp báo về Đại tá Mậu thì ông Nhu chỉ nói nhát gừng: “Nó thì mần ăn được cái chi. Lo là lo ba cái thằng Mỹ đó”.
Kể từ trung tuần tháng 10, Cabot Lodge gặp ông Nhu luôn. Có khi cuộc hội kiến kéo dài cả 1, 2 giờ. Những lần hội kiến như vậy, ông Nhu đều cho ghi âm một cách kín đáo. Sau đó cho người dịch lại để ông phân tích đắn đo từng lời của Cabot Lodge. Ông Nhu thường nói với một số sĩ quan thân cận như Trung tá Đằng, Trung tá Khôi, Đại tá Tung: “Cabot Lodge nguy hiểm lắm.. Coi chừng bọn CIA… bây giờ đâu cũng có hết lận”. Rồi mỗi khi nhắc đến Hilsman, người đầu não của cơ quan “Việt Nam Task Force” ông Nhu thường nói với mấy Bộ trưởng như ông Ngô Trọng Hiếu, Trương Công Cừu: “Cái thằng con nít đó (chỉ Hilsman) coi chừng có ngày mình chết với nó đấy nghe! Kể cả Kennedy nữa. Kennedy cũng vẫn bị CIA sỏ mũi dắt đi”.
Vào khoảng tháng 9, ông Nhu lại gặp Đại sứ Lalouette luôn. Cuộc gặp gỡ chỉ có hai người và kéo dài hàng 2, 3 giờ.
Cách đó ít lâu, khi săn cọp ở Phan Rang, ông Nhu nói với Trần văn Phước, Thị trưởng Đà Lạt:
- “Cabot Lodge sang đây mình sẽ mất đi nhiều viện trợ. Mình phải lo tự lực càng sớm càng hay. Người Pháp hứa sẽ viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa”.
Từ dạo đó Đại sứ Lalouette hay đến thăm ông Nhu. Mỗi lần gặp nhau, hai người có vẻ tương đắc như đôi bạn tâm giao.
Thường hay tháp tùng ông Nhu đi săn cọp tại khu rừng già Phan Rang, chưa có lần nào Đại úy Hạp thấy ông Nhu tiếp xúc với Việt cộng tại vùng này. Song sự tiếp xúc với Cộng sản Bắc Việt đã diễn ra ngay tại Sài Gòn và trong mấy tháng liền thì Đại úy được biết. Cuộc tiếp xúc gần như định kỳ mỗi tháng hai, ba lần. Có lần khi trở về dinh ông Nhu rất tươi vui. Có lần ông đăm chiêu cau có.
Lần tiếp xúc cuối cùng với đại diện của Bắc Việt đã diễn ra vào ngày 21-22 tháng 10-1963. Khoảng 7 giờ tối hôm đó, ông Cố vấn Nhu cho gọi Đại úy Hạp vào dinh để sửa soạn cho ông dùng cơm chiều với ông Đại sứ Ấn Độ Ram Chundur Goburhun tại Ủy hội quốc tế. Ông Ram Chundur Goburhun khoảng 50 tuổi, người đảo Maurice Ấn, cùng là bạn học của ông Nhu khi hai người du học tại Pháp. Đại sứ Ấn Độ vốn là một nhà ngoại giao khôn khéo, lanh lợi, ăn nói rất lịch thiệp và đã phục vụ tại Rabat (Maroc) Tunis (Tunisie) cũng như tại Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa.
Từ khi đến Sài Gòn, tân Đại sứ Ấn trở thành trục nối giữa Hà Nội và Sài Gòn. Mỗi khi từ Hà Nội về, có tin tức gì, ông Đại sứ Ấn lại vội vã đến thông báo cho ông Nhu. Hoặc mỗi lần có mang theo “khách lớn” từ Hà Nội thì ông Đại sứ Ấn lại tổ chức một bữa cơm chiều tại tư dinh của ông, Cố vấn Nhu trở thành thượng khách.
Buổi tối hôm ấy, ông Nhu không có vẻ gì là vội vã. Như thường lệ, có hai xe hộ tống. Khi vào trong tư dinh của ông Đại sứ thì ông Nhu ra lệnh quay xe tất cả ra ngoài.
Đại úy Hạp tò mò theo dõi thì lần nào cũng chỉ thấy ba người dùng cơm với nhau: ông Nhu, Đại sứ Ấn và một nhân vật quan trọng nào đó, lần nào ông ta cũng cài trên túi áo ngực một ngôi sao vàng trên nền màu đỏ.
Bữa cơm vào cuối tháng 10, kéo dài đến 11 giờ khuya, khi ông Nhu ra về thì chỉ có Đại sứ Ấn tiễn ông ra tận cửa.
Trước đó trong dịp đi săn cọp tại Phan Rang, ông Nhu đã nói thẳng với ông Phước và Đại úy Hậu, đại ý: “Mỹ họ gây cho mình nhiều khó khăn quá. Ngoài Bắc Việt họ tính chuyện hòa hoãn với mình. Mình cũng nên tìm cách hòa hoãn với họ trong một thời gian xem sao”. Ông Cố vấn Nhu cũng ngỏ ý như vậy với Trung tá Đường vào một lần giữa năm 1963 khi ông đến Bình Tuy săn cọp.
Ngày 26-10-1963, phe đảo chính không ra tay được vì ông Nhu đã được báo trước, ông Nhu phàn nàn :
- “Cứ dùng dằng mãi nó làm tới bây giờ thì trở tay không kịp, chết hết cả đám”.
Ông Nhu lại uống từng ly Martell lạnh lùng: “Tất cả những người quanh mình yếu quá”… Rồi ông Nhu lại phàn nàn: “Nói mãi mà ông Tổng Thống không nghe, biết làm thế nào?”.
Một số kế hoạch của ông Nhu đệ trình lên Tổng Thống Diệm không được chấp nhận kể cả việc thay thế Đại tá Đỗ Mậu, Tổng Thống Diệm cũng không chịu.
Về việc này Tổng Thống Diệm nhăn mặt nói với mấy người thân cận như Đại úy Bằng: “Các người chỉ lắm chuyện… Đỗ Mậu nó có lỗi gì đâu”. Về kế hoạch hòa hoãn với Bắc Việt, Tổng Thống Diệm vì nể ông Nhu nên tuy không công khai phản đối song lại nói: “Cứ để đấy tính xem thế nào hẵng hay”.
Sau ngày 26-10, ông Nhu quyết định xuất ngoại, ông bắt đầu uống nhiều rượu Martell trong một đêm, một hiện tượng chưa từng thấy. Mặt ông nặng trĩu lo âu và bẳn gắt. Vẫn đường dây đặc biệt đã gởi đến ông 1 bản báo cáo đặc biệt và khá đầy đủ trong đó khuyến cáo ông nên tạm thời xuất ngoại. Những ngày cuối của chế độ, giới thân cận chưa từng thấy ông Nhu lầm lì như vậy. Bao nhiêu toan tính song cuối cùng vẫn phải khoanh tay trước cơn bão táp.
Cuối tháng 10-1963, nhân ngày lễ, các con ông Nhu: Quỳnh, Trác, nội trú tại trường D’Adran Lasan về Sài Gòn nghỉ. Sáng 30 thì chúng trở lại Đà Lạt.
Trong khi đó ông Nhu cũng sửa soạn xong hành lý để ra đi, không hiểu lộ trình ông sẽ đi đến đâu Ấn Độ, Tunis, Rabat…, Lon don rồi Pari. Ông Nhu đã sắm sửa 12 bộ quần áo mới kể cả áo pardessus.
Nếu không có sự cản trở của Tổng Thống Diệm vào phút chót thì có thể ông đã lên đường vào ngày 28. Theo Đại úy Hạp cũng như một số người thân cận xung quanh ông, ông Nhu bắt đầu lo lắng vào giữa tháng 10, ông thường nói với một số Bộ trưởng thân tín như Bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu: “Bọn Mỹ nó muốn mình như Cao Ly. Âm mưu của nó là dựng lên một Chính phủ quân sự. Nếu đảo chính thì nó sẽ cho mấy anh tướng lên cầm quyền từ đây cho đến 10, 15 năm là ít. Nếu có khá lắm thì cũng giống như chế độ của Phibuz Song ram của Thái Lan… Rồi các anh coi”. Những ngày cuối cùng, ông Nhu bắt đầu cởi mở.
Đêm 30-10, Trung úy Sung thuật lại: ông Nhu bảo Đại úy Hạp vào ngay để ông biểu. Khi Sung gọi điện thoại cho ông Hạp, ông này còn lừng khừng: “Ăn cơm đã chứ, tôi ăn xong vào được không”. Hỏi lại ý ông Nhu, ông Nhu bảo vào ngay, khỏi cần ăn cơm nhà.
Dùng dằng nửa ở nửa đi
Khi Hạp cùng mấy anh em vào phòng riêng… của ông Nhu thì ông chỉ ghế mời ngồi rồi gọi ông già Tường, quản gia
- “Làm hai ly Martell cho các chú ấy uống đi”. Tay ông vẫn cầm ly rượu. Trán ông thỉnh thoảng nhăn lại, cằm ông bạnh ra. Đây là lần thứ nhất, Sung và Đại úy Hạp được cái vinh dự ông Nhu chỉ ghế mời ngồi và cùng nhau “cụng ly”. Chưa ai dám lên tiếng. Ông Nhu đã than thở: “Quyết đinh đi thì ông Tổng Thống không cho đi. Giữ lại thì ông cũng không chịu nghe…”.
Rồi ông Nhu yên lặng một lúc lâu. Ðại úy Hạp lên tiếng: “Ông Cố vấn kêu chúng cháu vô ðây có việc gì”. Ông Nhu khẽ thở dài rồi yên lặng, nhìn hai người một lúc lâu rồi mới nói: “Sáng mai, các anh đưa mấy đứa nhỏ lên Đà Lạt giùm tôi”. Hạp hỏi: “Ông cố vấn không đi?”. Suy nghĩ một lát ông Nhu trả lời: “Chắc không đi được”. Rồi lại yên lặng hàng 10 phút ông Nhu mới lại lên tiếng bảo Đại úy Hạp: “Lấy hết quần áo về chưa? Cứ sắp xếp sẵn… Khi nào cần thì bảo”.
Đại úy Hạp hỏi: “Bao giờ chúng cháu phải đưa hai cậu và em Quyên về?”. Ông Nhu thủng thẳng đáp nhát gừng: “Bao giờ gọi điện thoại thì về”.
Rồi lại yên lặng… lát sau ông nói một mình vu vơ: “Nghe thì không nghe, đi thì không cho đi. Tụi nó làm tới bây giờ rồi tính sao. Khó cho tao quá đi”.
Đại úy Hạp ngồi yên im lặng vì không biết phải nói gì hơn. Ông Nhu ngồi lặng thinh khoảng 30 phút như một pho tượng. Tay vẫn cầm ly Martell, ông Nhu nằm ngả người trên ghế tựa, uống đến ly Martell thứ ba, ông ngồi như thế lặng lẽ hàng giờ.
Bỗng ông Nhu ngồi nhổm dậy, nét mặt chảy dài, nói vu vơ: “Chà… mẹ con nó đi hết rồi”. Ông Nhu quay lại hỏi Đại úy Hạp:
- Mười ngàn tôi đưa Đại úy còn không? Hạp đáp: “Thưa ông Cố vấn đã hết từ lâu rồi”. Đại úy Hạp vẫn thường tâm sự với ông già Tường, Trung úy Sung: “Ông Cố vấn tiêu xài kỹ quá. Từ khi bà đi ngoại quốc thì ông ở nhà lo việc chi tiêu. Đưa cho đồng nào, ông Cố vấn bắt ghi từng mục”. Đưa cho Hạp mười ngàn, Hạp tiêu xong lại phải trình bản quyết toán ghì đầy đủ chi tiết.
Ông Nhu hỏi Hạp :
- Bây giờ đưa bọn nhỏ lên Đà Lạt thì cần bao nhiêu?. Hỏi rồi ông Nhu đáp liền: “Thôi đưa Đại úy 15 ngàn đủ chứ?”.
Hạp hỏi ông Nhu: “Thưa ông đưa các cậu đi bằng máy bay nào? Đi Air Việt Nam cho tiện được không?”. Ông Nhu trầm ngâm rồi lắc đầu: “Đi Air Việt Nam nguy hiểm lắm. Nó đi thẳng, bắt mấy đứa nhỏ làm con tin thì sao”.
Ông Nhu bảo Hạp hên lạc với Đại úy Hiển để lấy máy bay của không quân cho chắc.
Lặng thinh một lúc lâu bỗng ông Nhu đứng lên lấy hai khẩu súng lục kiểu “22” loại không gây tiếng nổ trao cho Hạp. Ông Nhu khoe: “Họ mới biếu moa. Loại súng này đặc biệt lắm. Để ở nhà sợ thằng Trác nó bắn bậy bạ”. Rồi ông Nhu lại con cà con kê một lúc lâu.
Đứa trẻ thơ
Tình hình Đà Lạt vào ngày 1-11 vẫn như vô sự. Đại úy Hạp và Hữu đi phố xem xét tình hình như thường lệ. Ông Hạp cho bốn chiếc thiết giáp đi tuần tiễu quanh phố. Tình hình biến chuyển đột ngột. Sáng ngày 2, Trường Võ bị Đà Lạt trở thành tổng hành dinh của phe đảo chính gồm Trung tá Trần Ngọc Huyền và Thiếu tá Ngô Như Bích… Ông Trần văn Phước vẫn trung thành với chế độ Ngô Đình Diệm.
Rút kinh nghiệm vụ đảo chính hụt 11-11-1960, ông Huyền chỉ “ra tay” khi được tin thành Cộng Hòa và dinh Gia Long thất thủ. Ngay sau đó, ông Trần văn Phước, Thị trưởng Đà Lạt bị phe Trung tá Trần Ngọc Huyền bắt giữ tại Trường Võ bị. Điều quan trọng đối với phe ông Huyền là làm thế nào bắt được ba đứa con của ông Nhu. Một vài người khác có máu tham thì lại đặc biệt lưu ý đến chiếc vali mà Đại úy Hạp mang ở Sài Gòn lên từ ngày 30.
Phía đầu dây bên kia ông Phước gọi Đại úy Hạp: “Anh mang Quỳnh, Trác, Quyên vào đây cho tôi”. Ông Hạp quay sang hỏi Đại úy Hữu: “Không hiểu như thế nào, giọng ông Phước lại hơi run run, ngắt quãng. Có lẽ bị bắt”. Tuy vậy, ông Hạp cũng hứa là sẽ đưa ba đứa nhỏ vào ngay. Mặt khác, ông Hạp lại cho người lên Trường Võ bị do thám và gặp ông Phước, ở đây cho biết không thể nào gặp ông Phước được. Đại úy Hạp bắt đầu nao núng.
Đại úy Hạp và Hữu quyết định đem ba đứa con ông Nhu đi trốn. Để làm kế nghi binh, Đại úy Hạp cho người lái xe Mercedes chạy vòng quanh phố cứ làm như trên xe có ba đứa nhỏ. Trong khi đó, Hạp, Hữu cùng đoàn cận vệ đem ba đứa con của ông Nhu tẩu thoát, lẩn trong rừng thông, đi từ dinh số 1 về dinh số 2 rồi men theo đường rừng đi thẳng xuống Đơn Dương. Đại úy Hạp định tâm xuống Phan Rang tìm đến Trung tá Khánh Tỉnh trưởng của tỉnh này.
Lặn lội trong rừng suốt buổi chiều, phải dừng lại cho dựng lều và phân phối cận vệ lo việc bố phòng. Lúc ấy, Đại úy Hạp lo nhất là đám người xung quanh và Việt cộng trong vùng. Nhưng biết làm thế nào hơn. Các con ông Nhu vẫn chưa được thông báo về cha mình đã bị giết. Đi mỗi ngày đường lại trải qua một đêm giữa rừng, con bé Quyên bắt đầu đau. Đại úy Hạp cố tìm cách bắt liên lạc với Sài Gòn nhưng đều bặt tin.
Phe đảo chính cũng xua quân đi lùng bắt đám con ông Nhu. Trưa ngày mùng 3, máy bay của quân đoàn II lượn quanh vùng Đa Nhím phát thanh kêu gọi Đại úy Hạp đem theo ba đứa nhỏ về trình diện Hội đồng Quân nhân. Đại úy Hạp và Hữu đều lo ngại.
Tổng Thống Diệm và ông Nhu còn bị giết huống chi ba đứa nhỏ. Ông Hạp đề nghị lữ hành sẽ băng rừng xuống Phan Rang, rồi một là tìm cách về Xuân Lộc ẩn náu, nếu thuận tiện thì về thẳng Sài Gòn nếu không sẽ qua Phước Long rồi sang Cao Miên.
Nhưng cuối cùng, đoàn lữ hành phải khoanh tay vì không còn tiền. Mấy bữa liền, bọn con ông Nhu phải ăn đồ hộp và uống nước lạnh. Con bé Quyên đã đuối sức. Quyên cũng như Quỳnh tỏ vẻ ngạc nhiên trên bước đường lưu lạc. Cận vệ thì anh nào cũng súng cầm tay, sẵn sàng đối phó. Hai ông Hạp và Hữu không dám rời bọn nhỏ lấy một phút.
Mãi đến ngày 3, Đại úy Hạp mới cho Trác biết tin ba và bác của Trác đã chết. Lúc đầu Trác không tin. Sau cho Trác theo dõi radio, bấy giờ Trác mới tin. Đôi mắt chú bé rưng rưng nhưng không nói được lời nào.
Săn đuổi
Phi cơ vẫn bay lượn trên bầu trời Đa Nhím, phát thanh kêu gọi Hạp và Hữu đưa bọn nhỏ trở về Đà Lạt. Trác nói với Đại úy Hạp: “Đại úy đưa các em tôi về”. Hạp nói: “Cậu và các em về thì không sao nhưng còn bọn tôi, họ đâu có tha”. Trác lại nói: “Hai em tôi nó mệt quá, ở trong rừng lạnh chết mất… làm sao đi được nữa…”. Đại úy Hữu đáp: “Nếu ý cậu muốn như vậy cũng được. Đại úy Hạp sẽ tìm cách thu xếp để cậu về”.
Sau đó “lữ hành đoàn” kéo nhau băng rừng, trở về thành phố. Cho chắc hơn, ông Hạp vẫn để bọn nhỏ ở trong rừng thông. Ông cho người về phố quan sát đồng thời gọi cho phe đảo chính báo tin với một điều kiện ông Hạp chỉ nộp ba đứa nhỏ cho tướng Khánh. Gọi máy xong, ông Hạp lại cho di chuyển ba đứa nhỏ đến một địa điểm khác vì sợ lộ mục tiêu. Phe đảo chính vẫn xua quân đi tìm rất ráo riết.
Ngày 3-11, tướng Khánh đã có mặt ở Đà Lạt nhận lãnh ba đứa con ông Nhu. Tướng Khánh nắm tay Đại úy Hạp, giọng buồn: “Tụi nó làm không ra cái gì hết. Giết người ta, thảm quá”.
Chương 10: Trên bước đường cùng
Filed under: TÀI-LIỆU | Leave a Comment »
Ai Giết Anh Em TT. Ngô Đình Diệm -8- (Quốc Đại)
| Chương 8 PHẬT GIÁO và TỔNG THỐNG DIỆM ngày lịch sử 7-5-1963 (Âm lịch) |
Không một người Việt Nam nào có thể ngờ rằng, ngày ấy và bức công điện ấy đã cắm cột mốc khởi điểm cho một thảm kịch bi thương.
Trần Khôi hồi tưởng lại những ngày khi ông ra Huế thanh tra trước ngày 8-5 khoảng mấy ngày. Bây giờ nghĩ lại ông Khôi chợt bàng hoàng về một sự trùng hợp ngẫu nhiên và tự hỏi. Người Mỹ muốn gì ở Việt Nam?
Vốn quen biết với đại tá Mỹ Coner trong thời gian thuộc quyền Bộ Nội vụ trước khi ra Huế, Khôi tình cờ gặp ông Coner, ông Coner khoe :
- Do sự thuyết phục của tôi Tổng Thống Diệm mới chịu thi hành dân chủ tại xã ấp.
Kể từ đó xã ấp đều do dân chúng trực tiếp bầu theo lối phổ thông đầu phiếu.
Biết rõ bản tính Coner nên ông Khôi nghĩ bụng “Thằng cha thuộc loại nói róc tay tổ” Coner còn nói thêm:
“Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa còn phải thi hành nhiều cải tổ quan trọng nữa mới thắng được Cộng sản chính quyền này thiếu dân chủ”. Rồi Coner lại nhấn mạnh: “Tôi có có cảm tưởng Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa là Chính phủ của những nguời Công giáo. Anh ra Huế thì biết. Tôi sẽ giới thiệu anh với Johnson, đàn em của tôi đang giúp Hoàng Trọng Bá huấn luyện lực lượng Nhân dân võ trang”.
Coner nói với Khôi như một giãi bày tâm sự:
- “Dư luận Mỹ đang bất lợi cho Việt Nam, muốn chống Cộng sản thì phải huy động lực lượng Phật giáo không phải chỉ một chính quyền Công giáo. Phật giáo sẽ tẩy chay Chính phủ. Ông ra Huế thì biết đó chỉ là một vương quốc của Tổng giám mục Ngô Đình Thục”.
Ông Khôi lấy làm lạ lùng về thái độ của Coner, một người Mỹ có kinh nghiệm 30 năm ở miền Nam Việt Nam không hiểu suy luận từ một sự kiện nào lại nhất định cho rằng chính quyền Ngô Đình Diệm là một chính quyền của người Công giáo. Ông Khôi biết bụng vậy thôi và khi ra Huế đúng vào dịp Huế đang tưng bừng đón Phật đản đồng thời đang sôi động về bức công điện cấm treo cờ ông mới hiểu điều Coner ám chỉ.
Theo lời Trần Khôi, quan sát ngay tại chỗ về vụ nổ ở Đài Phát thanh Huế sẽ không dủ cho ta những lập luận có thể tin được, là CIA hoặc Cộng sản đã nhúng tay vào biến cố ngày 8-5. Nhưng về phía Mỹ, qua những cuộc đối thoại trao đổi thì ta lại dễ dàng cảm thấy bằng trực giác là Mỹ có thể đã nhúng tay và qua nhiều ngẫu nhiên trùng hợp thì quả là người Mỹ đã “ra tay hành động”.
Buổi tối 7-5, ông Khôi được mời dùng cơm tại nhà một viên chức Mỹ. Trong bữa cơm đó ông gặp Johnson, ông Phó lãnh sự Mỹ, một bác sĩ người Đức tại trường Đại học Y khoa Huế và một người Việt Nam tự giới thiệu là giáo sư trường Đại học văn Khoa Huế. Khôi ngồi cạnh ông Johnson, ông ghi nhận Johnson là một tay người Mỹ, không khen hay chê Chính quyền. Nhưng luận điệu của ông Phó lãnh sự Mỹ cũng tương tự như Coner. Đề cập đến Phật giáo ông Phó lãnh sự Mỹ nói đại ý:
Phật giáo là một lực lượng rất lớn lao. Nhưng Phật giáo không tham gia vào công cuộc chống Cộng nếu Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không mở rộng cho Phật giáo tham dự.
Nghe nói như vậy, ông Khôi phản đối:
Quan niệm của ông Phó lãnh sự có phần không đúng. Ông Tỉnh trưởng ở đây, ông tướng Tư lệnh vùng đều là Phật giáo. Phó Tổng Thống cũng là Phật giáo. Tướng Tổng tham muu trưởng cũng là Phật giáo.
Ông Phó lãnh sự Mỹ mỉm cười không đáp. Một lát sau, viên chức Mỹ Warren Smith lên tiếng công kích nặng nề việc làm của Nha Công tác miền Thượng. Viên chức Smith cho rằng, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đang thực hiện kế hoạch Việt Nam hóa và Công giáo hóa tất cả đồng bào Thượng và nhất là Nha này đã xâm phạm chủ quyền vương quốc Lào và quyền “tự quyết” của các sắc tộc Thượng.
Bữa cơm hôm ấy, các viên chức Mỹ, Smith và nhất là ông Phó lãnh sự đã công kích chính quyền Ngô Đình Diệm khá mạnh mẽ về vấn đề Phật giáo. Đề cập đến vụ biểu tình tại tòa Tỉnh trưởng Thừa Thiên chiều mùng 7, ông Phó lãnh sự cho rằng: “Nếu chính quyền Ngô Dình Diệm không chịu “liên hiệp” (?) với Phật giáo tham chánh thì Phật giáo sẽ đứng lên tranh đấu”
Cũng từ ngày 7-5, có một số người Mỹ ở Đà Nẵng cấp tốc ra Huế. Đó là đại úy Scot. Tất nhiên là không ai để ý đến ông ta.
Nhưng đại úy Scott ra Huế để thực hiện một công việc quan trọng do Trung ương tình báo Mỹ trao phó cho ông ta.
(Năm 1965, đại úy Scott trở thành sĩ quan cố vấn của Tiểu đoàn 1/3 Sư đoàn 1 BB. Trong cuộc hành quân tại vùng Nam Đồng, Scott trong lúc đau buồn bất mãn đã tiết lộ công vìệc mà ông ta đã thực hiện ngày 8-5-1963)
Tại Sài Gòn, không có một chuyện đáng tiếc nào xảy ra trong hai ngày 7 và 8. Sáng ngày 8, Lương Khải Minh được mấy người bạn cho biết, bên phía chùa Xá Lợi đang có chuyện bất mãn với Chính quyền về vụ cấm treo cờ. Lúc ấy ông ta mới hay và rất ngạc nhiên.
Lương Khải Minh thầm nghĩ: “Trong tình thế này cấm đoán làm chi dù cho là hợp lý. Vụ cờ Vatican rồi vụ cờ Phật giáo, chế độ càng ngày càng tạo thêm mâu thuẫn”.
Và Cộng sản cũng chỉ mong có thế. Sáng sớm, Thượng tọa Trí Dũng và một vị Thượng tọa khác có lại thăm bác sĩ Tuyến tại nhà riêng và yêu cầu ông can thiệp, làm thế nào để Chính quyền đình chỉ thi hành bức công điện cấm treo cờ. Bác sĩ Tuyến gọi điện hỏi ông Đoàn Thêm (Đổng lý Văn phòng Bộ Phủ Tổng Thống) ông Đoàn Thêm xác nhận là có bức công điện đó và do nơi ông Đổng lý Phó Tổng Thống Quách Tòng Đức gởi đi (ông Quách Tòng Đức thi hành khẩu lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm).
Sự việc đã xảy ra như vậy, biết làm thế nào?
Tại Sài Gòn, Lương Khải Minh tự động giải quyết theo đường lối tình cảm cá nhân. Quận 3 là nơi tập trung rất nhiều chùa chiền và những chùa lớn như Xá Lợi, Kỳ Viên… Từ tư thất, bác sĩ Tuyến gọi Trung tá Phó đô trưởng Nội An và ông Cảnh sát trưởng Quận 3 (bấy giờ là cò Kính) và yêu cầu hết sức thận trọng “Nơi nào đã treo cờ rồi cứ để nguyên đừng cho cảnh sát hạ xuống. Nơi nào đồng bào Phật tử chưa treo thì tìm lời khéo léo nói với họ xin thông cảm”.
Nhờ sự sốt sắng và không quan tâm của cảnh sát thuộc 7 quận đô thành nên vụ cờ Phật giáo đã không gây ra những chuyện đáng tiếc tại Sài Gòn. Lễ Phật đản cử hành như mọi năm.
Bài thuyết pháp nảy lửa
Ngày 8-5, từ sáng sớm tinh mơ, Huế đã trở mình thức dậy giữa một rừng cờ. Đồng bào Phật tử trong khắp thành phố nhất tề quần áo bảnh bao sửa soạn kéo nhau về chùa Từ Đàm để dự đại lễ. Nguyễn Hữu Cang trong một tâm trạng nao nức.
Nguyễn Hữu Cang đã được bạn rỉ tai từ tối hôm trước là sáng nay có thể chính quyền sẽ đàn áp Phật giáo và ngăn chặn không cho rước kiệu Phật. Song cũng vì nguồn tin như vậy nên số Phật tử đi dự lễ càng đông càng hăng say.
Từ 8 giờ sáng trên các ngả đường thành phố Huế tấp nập những người, từ Đập Đá, từ An Cựu, đến Gia Hội, Diệu Đế… hàng ngàn Phật tử rước kiệu Phật tiến về lễ đài thiết lập tại chùa Từ Đàm.
Khoảng 9 giờ, đại úy Minh vào gặp ông Cẩn và tin cho ông Cẩn hay, mọi chuyện rước xách đã diễn ra rất tốt đẹp.
Thiếu tướng Lê văn Nghiêm cũng như ông đại biểu Hồ Đắc Thương, ông Tỉnh trưởng Nguyễn văn Đẳng đều khăn đóng áo dài đến chùa Từ Đàm dự lễ vừa với tư cách chính quyền vừa tư cách Phật tử.
Trước đó, một đoàn ước chừng 500 người từ Gia Hội rước Phật qua Từ Đàm, khi đi ngang Tòa Đại biểu thì dừng lại, năm bảy chiếc biểu ngữ được giơ lên. Không khí bắt đầu sôi nổi.
Trong số biểu ngữ đó có những khẩu hiệu như là đòi chính quyền thực thi quyền bình đẳng tôn giáo và lên án kỳ thị tôn giáo.
Đoàn người dừng lại một lúc lâu, có nhiều tiếng la ó và đả đảo. Sau đó đoàn người lại thẳng bước tiến về lễ đài. Theo Nguyễn Hữu Cang thì hôm ấy, thanh niên và hướng đạo Phật tử đã nhận được lệnh là luôn luôn đề cao cảnh giác và chính quyền có thể đàn áp bất cứ lúc nào.
Trong buổi lễ Thượng tọa Trí Quang đăng đàn thuyết giảng. Bao nhiêu ngàn Phật tử im lặng như tờ. Phật tử vừa thích thú vừa hồi hộp, ngạc nhiên. Thượng tọa Trí Quang nói hay quá, hấp dẫn và nồng nàn. Thượng tọa lên tiếng công kích chính quyền rất nặng nề và tố cáo sự kỳ thị tôn giáo, bất bình đẳng tôn giáo. Tóm lại, bài thuyết giảng đó vừa công kích chính quyền vừa có tính cách kêu gọi Phật giáo tranh đấu cho Phật pháp và “đòi quyền bình đẳng tôn giáo”.
Tội nghiệp cho ba “ông lớn” của chính quyền được một phen “rụng tim”. Ba “ông lớn” thất sắc đưa mắt nhìn nhau và lắc đầu chịu trận. Thiếu tướng Nghiêm cho rằng thầy Trí Quang công kích chính quyền nặng quá, đang dự leã chả lẽ ông lại bỏ ngang ra về. Bài thuyết giảng của Thượng tọa Trí Quang được cơ quan an ninh thu băng.
Khi tan lễ, Thiếu tướng Nghiêm cũng như ông Đẳng và ông Chương cùng lần lượt kéo nhau đến tư dinh ông Cẩn và mỗi người lần lượt trình bày về nội dung bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang. Ông Cẩn thắc mắc nói với mọi người: “Tại sao thầy Trí Quang lại cư xử với mình như vậy?”. Có thể nói ông Cẩn rất ngạc nhiên về bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang. Lúc đầu nghe nói ông vẫn không tin “Làm gì có chuyện đó”. Mãi sau khi nghe hết cuộn băng, ông Cẩn chỉ lắc đầu, than dài.
Về phía đồng bào Phật tử tinh thần bỗng lên cao và càng thêm hăng say nhờ bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang.
Theo Nguyễn Hữu Cang, sau khi nghe Thượng tọa Trí Quang thuyết pháp như vậy, Cang cũng như bạn bè nhất là giới Phật tử lao động và học sinh, sinh viên bỗng nhiên cảm thấy phẫn uất và cần phải làm một cái gì đó. Cơn giông tố bắt đầu nổi lên.
Buổi chiều ngày 8 lặng lẽ trôi qua. Theo chương trình đã dự định thì 8g30 tối sẽ đốt pháo bông và rước xe hoa tại chùa Từ Đàm. Vào khoảng 6 giờ chiều đồng bào đã lũ lượt kéo nhau về Từ Đàm. Những năm trước lễ Phật đản tại Huế bao giờ cũng tấp nập đông vui như vậy.
Vào khoảng 7giờ 30, đồng bào tập trung tại chùa Từ Đàm chen chân không nổi. Bỗng nhiên ban tổ chức cho biết, chương trình được thay đổi và không có đốt pháo bông như dự định.
Đồng bào được mời về tập trung tại Đài phát thanh phía cầu Tràng Tiền. Ban tổ chức cho biết đồng bào hãy tập trung quanh vùng Morin, để đón đoàn xe hoa từ Đà Nẵng ra tham dự. Đồng bào Phật tử lại chen nhau đổ xô về địa điểm đã định. Ai nấy đều nao nức, mong chờ đoàn xe hoa từ Đà Nẵng tiến ra.
Tại Đài phát thanh, ông Quản đốc Ngô Ganh đang cho sửa soạn để phát chương trình lễ Phật đản vào lúc 8g15. Chương trình đã được thu thanh từ trước và được kiểm duyệt theo thể lệ chung. Linh tính cho ông biết sắp xảy ra chuyện chẳng lành. Đồng bào tập trung quanh Đài phát thanh đông quá sức tưởng tượng. Nhân viên của đài vẫn yên trí làm việc vì cho rằng, đồng bào đến để nghe phát thanh chương trình đặc biệt về lễ Phật Đản, giản dị chỉ có thế thôi.
Nhưng sau đó, có mấy ông Thượng tọa, Đại đức và một số thanh niên Phật tử vào thẳng văn phòng ông Quản đốc, yêu cầu được thay đổi chương trình phát thanh. Thay vì cho phát thanh chương trình đã được thu thanh và kiểm duyệt, ban tổ chức yêu cầu ông Quản đốc cho truyền thanh trực tiếp buổi lễ ban sáng kể cả bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang mà ban tổ chức đã thu thanh.
Quản đốc Ngô Ganh từ chối với lý do ông chỉ được phép cho truyền thanh những cuộn băng nào đã được kiểm duyệt, còn vấn đề trực tiếp truyền thanh buổi lễ thì ông không thể thỏa mãn. Ban tổ chức cương quyết đòi hỏi phải được truyền thanh theo chương trình trong cuốn băng của Ban tổ chức. Bên ngoài Phật tử và đồng bào tập trung mỗi lúc một đông và tựa như từng lớp sóng người trong vùng biển động.
Ngô Ganh gọi điện cho từng cấp liên hệ để báo cáo sự tình. Đôi bên vẫn dằng co.
Về phía chính quyền lúc 5 giờ chiều, cơ quan an ninh đã nhận được nguồn tin mật là tối nay các Thầy sẽ làm áp lực buộc Đài Phát thanh phải cho trực tiếp truyền thanh cuộn băng ghi lời thuyết pháp ban sáng của Thượng tọa Trí Quang – Thiếu tá Đặng Sỹ Phó tỉnh trưởng đi tìm ông Tỉnh Trưởng để tường trình nội vụ. Nhưng ông Sỹ không sao tìm được ông Đẳng. Ông Sỹ cho người đến nhà vợ nhỏ ông Đẳng cũng không thấy ông đâu.
Cuối cùng Thiếu tá Sỹ đến văn phòng ông Cẩn thì lúc ấy ông Lê văn Đạm (Đổng lý tòa Đại biểu) và ông Đẳng cũng vừa tới. Ông Sỹ trình bày qua loa về hiện tình, ông Đẳng cho biết ông đã gặp Thượng tọa Trí Quang và nói: “Cứ yên trí không có chuyện gì đâu”. Sau đó hai ông Đạm và Đẳng gặp riêng ông Cẩn. Ông Cẩn cho rằng: “Nếu có như rứa thì sao bây chừ… vậy cố gắng sao nói với thầy Trí Quang bỏ qua đi”.
Tình hình đài phát thanh lúc ấy đã hết sức căng thẳng. Đồng bào Phật tử đã tràn vào tới sân, nhiều tiếng la lối, hò hét. Ngô Ganh gọi điện thoại cho Thiếu tá Sỹ cầu cứu. “Thiếu tá phải can thiệp gấp họ chiếm Đài bây giờ này”. Rồi cứ năm phút Thiếu tá Sỹ lại nhận được điện thoại của Ngô Ganh. “thiếu tá không can thiệp gấp thì họ chiếm Đài họ giết tôi đó”. Ông Sỹ cũng không biết làm thế nào, đành phải trấn an Ngô Ganh: “Anh. cứ yên trí, không sao đâu tôi ra ngay đó”. Sự thực lúc ấy Thiếu tá Sỹ cũng như văn phòng ông Cẩn chưa biết phải giải quyết như thế nào cho êm đẹp.
Tình thế quá gấp rút, ông Nguyễn văn Đẳng bảo Thiếu tá Sỹ: “Bây giờ chỉ còn cách giải tán, Thiếu tá lo giùm tôi đi”.
Ông Sỹ trả lời “Tôi làm ngay, nhưng ông Tỉnh trưởng ra lệnh đã”. Ông Đẳng có vẻ mất bình tĩnh. Tin tức cho biết, Đài phát thanh có thể mất đến nơi. Ông Đẳng bảo Thiếu tá Sỹ: “Thiếu tá lo gấp dùm tôi, ký một giấy chứ hàng trăm giấy tôicũng ký”. Thiếu tá Sỹ ngần ngại: “Tôi thi hành lệnh giải tán với tư cách nào? Phó tỉnh trưởng Nội an hay Tiểu khu trưởng?”. Ông Đẳng chưa biết trả lời sao thì được ông Sỹ giải thích: “Nếu với tư cách Phó Nội an thì tôi chỉ có một ít cảnh sát, công an và hai đại đội địa phương quân”. Ông Đẳng vui vẻ: “Thiếu tá thi hành theo tư cách Tiểu khu trưởng đi”. Ông Đẳng không quên vấn đề giấy tờ và nói: “Thiếu tá về Tiểu khu làm giấy tờ đi rồi tôi ký sau”. Theo quyết định 57 của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thì, Tỉnh trưởng ngoài chức trưởng hành chính còn giữ chức trưởng an ninh lãnh thổ. Như vậy, giải tán cuộc biểu tình tại Đài phát thanh đều thuộc thẩm quyền tối thượng của Tỉnh trưởng Thừa Thiên.
Sau khi nhận lệnh của ông Đẳng, Thiếu tá Sỹ gọi điện thoại về Đà Nẵng trình nội vụ lên Thiếu tướng Nghiêm Tư lệnh Vùng I chiến thuật. Tướng Nghiêm tỏ vẻ lo lắng và ra lệnh cho ông Sỹ: “Anh phải lo giải quyết ngay còn chần chừ gì nữa… Nếu họ chiếm được Đài phát thanh Việt cộng nó lợi dụng phá Đài rồi làm sao đây?”. Thiếu tá Sỹ trình bày: “Hiện nay Tiểu khu Thừa Thiên không đủ phương tiện, xin Thiếu tướng cho phương tiện”. Thiếu tướng Nghiêm đồng ý cho Tiểu khu Thừa Thiên được sử dụng phương tiện thuộc khu và vùng chiến thuật đặt dưới quyền Tư lệnh của Thiếu tướng Nghiêm.
Như vậy đã có sự đồng ý của Vùng. Thiếu tá Sỹ gọi điện thoại xin lệnh của Tư lệnh sư đoàn I bộ binh kiêm Tư lệnh khu XI chiến thuật. Đại tá Đỗ Cao Trí đã bay về Sài Gòn từ chiều và chỉ còn Trung tá Lê Quan Hiền Tư lệnh phó. Sau khi trình bày nội vụ, Thiếu tá Sỹ xin lệnh và ý kiến thì Trung tá Hiền sốt sắng đồng ý ngay: “Tôi cho anh sử dụng đại đội Thiên hổ” Đại đội trù bị của sư đoàn I nổi tiếng là thiện chiến do thiếu úy Phú làm đại đội trưởng. Thiếu tá Nguyễn Hộ làm Tham mưu trưởng sư đoàn cũng có mặt tại Bộ Tư lệnh cũng đồng ý để ông Sỹ sử dụng lực lượng trù bị của sư đoàn. Thiếu tá Nguyễn Hộ bảo ông Sỹ: “Anh cứ làm kế hoạch đi, Thiếu úy Phú đến trình diện anh ngay bây giờ”.
Thiếu tá Sỹ gọi điện thoại cho Thiếu tướng Nghiêm báo cáo diễn biến của nội vụ. Ông Nghiêm ra lệnh: “Phải lo giải tán gấp đi. Tôi cho anh một đại đội khóa sinh C1 và một đại đội thiết giáp đang hành quân tại vùng Phú Lộc”. Hai đại đội này đều trực thuộc cấp Vùng. Ông Sỹ trở về tiểu khu Thừa Thiên và gọi điện thoại cho Thiếu tá Vĩnh Biểu (chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Phú Bài): “Anh cho tôi xin một đại đội, anh cho lên Tiểu khu gấp, Thiếu tướng đã nói gì với anh chưa?”. Thiếu tá Biểu xác nhận đã nhận được lệnh của Thiếu tướng Nghiêm qua đại úy Thiết, Chánh văn phòng của Tư lệnh Vùng I.
Thiếu tá Vĩnh Biểu cho biết là đại đội khóa sinh C1 đang lên xe trực tiểu khu.
Kể từ lúc này Thiếu tá Sỹ đã có một lực lượng khá hùng hậu gồm đại đội Thiên hổ, đại đội C1, đại đội Quân Trấn, chi đội cơ giới Bảo an (do Trung úy Kỳ chỉ huy, sau 1963 ông Kỳ bị bắn chết một cách rất ly kỳ sẽ nói vào đoạn sau) đại đội thiết giáp và một số hiến binh quân cảnh thuộc Quân Trấn.
Bộ Tham mưu của ông Sỹ có mặt đại úy Lê Nguyên Phu (Tiểu khu phó), đại úy Nguyễn Kinh Lược (Tỉnh đoàn trưởng Bảo an), đại úy Lê Duy Hiền (Tham mưu trưởng).
Tuy đã nhận được lệnh đầy đủ từ ba phía liên hệ (Tỉnh trưởng, Vùng và Khu chiến thuật) ông Sỹ cũng như các sĩ quan hiện diện đều băn khoăn do dự. Riêng ông Sỹ lại càng khó xử hơn cả, vì ông mắc vào hai cái kẹt: là một tín đồ Thiên chúa giáo, gia đình bên vợ lại là Phật giáo (bà mẹ vợ ông Sỹ thuộc hàng tu tại gia và thọ giới trai). Các sĩ quan hiện diện đều đồng ý là phải hết sức thận trọng, đây là vấn đề thuộc phạm vi tôn giáo vì dù có giải tán một cách êm đẹp cũng vẫn bị mang tiếng là đàn áp. Nếu thất bại để mất Đài Phát thanh thì hậu quả sẽ không biết như thế nào.
Các đơn vị đã tập hợp đầy đủ tại sân Tiểu khu ông Sỹ ra trước hàng quân giải thích cho quân nhân các cấp rõ và ra lệnh dùng súng Garrant tay cầm ngang trước mặt xô đồng bào, tuyệt đối không được dùng lưỡi lê đâm và cũng không được phép nổ súng. Bộ Tham mưu chọn 10 người và chỉ 10 người này mới được phép bắn. Đại úy Lược lưu ý: “Chỉ được bắn chỉ thiên mà thôi. Khi nào nghe thấy Thiếu tá báo hiệu lệnh thì mới được nổ…”. Ngoài 10 người được chỉ định không một quân nhân nào được sử dụng đạn nổ. Bộ Tham mưu lại chọn 15 quân nhân khác, phân phối cho 15 địa điểm và mỗi quân nhân được phát một trái lựu đạn MK.3 cũng dùng khi tấn công địch, tiếng nổ MK.3 rất lớn khủng bố tinh thần địch, nhưng MK.3 không có tác dụng giết người và nếu đứng gần chỗ nổ sẽ chói tai long óc và có thể bị thương nhẹ.
Đại úy Phu nhắc lại lệnh Thiếu tá Sỹ: “Các anh em sử dụng lựu đạn phải nhớ hai tiêu chuẩn: 1. Chỉ ném khi có súng lệnh của Thiếu tá; 2. Chọn nơi nào không có người mới được ném, thí dụ như ném vào bãi cỏ gốc cây”.
Trong khi Bộ Tham mưu của Tiểu khu còn đang bàn thảo kế hoạch đối phó thì Đài Phát thanh bắt đầu lâm nguy trầm trọng. Gạch đá bay vun vút. Trung tá Thưởng Giám đốc Nha Công an gọi điện thoại cho Thiếu tá Sỹ giọng bẳn gắt: “Anh còn chần chờ gì nữa… Anh giải tán ngay đi. Tình hình nguy lắm rồi”.. Thiếu tướng Nghiêm từ Đà Nẵng gọi điện thoại hỏi tình hình và ra lệnh cho ông Sỹ: “Việc đã gấp rồi giải tán thì giải tán ngay đi, còn chần chừ gì…”.
Ông Sỹ và mấy sĩ quan Tham mưu nhìn nhau do dự… Ai cũng ngán.
Đợt thứ nhất, ông Sỹ cho sử dụng xe phun nước nhưng vô hiệu. Đồng bào đông quá và nhấp nhô như biển động trong cơn giông tố. Đợt thứ hai, ông Sỹ cho hai tiểu đội quân cảnh, một tiểu đội hiến binh và khoảng 20 nhân viên cảnh sát, nhưng cũng vô hiệu. Đám quần chúng ngày càng bị khích động và đang như trong cơn lên đồng.
Ông Quản đốc Ngô Ganh kêu cứu trong sự tuyệt vọng: “Đài mất đến nơi rồi, họ giết tôi bây giờ đây nè. Thiếu tá can thiệp gấp.”.
Đợt thứ ba: Thiếu tá Sỹ cho hai trung đội ra đi tiến theo đội hình dàn hàng ngang cùng với ba xe phóng thanh kêu gọi đồng bào giải tán, gạch đá bay vun vút, hàng ngàn tiếng la ó, đả đảo, hoan hô.
Ông Nguyễn văn Đẳng bắt đầu mất tinh thần. Quần chúng làm dữ quá. Gạch đá ném tới tấp vào cửa Đài Phát thanh. Ông nói với Thượng tọa Trí Quang: “Thầy dùng Micro Thầy nói dùm, như thế này nguy hiểm quá”. Thầy Trí Quang ngần ngại: “Bây giờ tôi phải nói với Phật tử sao đây” Đám đông vẫn cuồn cuộn như thủy triều dâng cao. Thầy Trí Quang ra trước cửa Đài, lên tiếng tiếng trấn an dân chúng: “Phật tử cứ bình tĩnh, mọi việc Thầy đang tìm cách giải quyết…”. Nhưng lời Thầy Trí Quang cũng vẫn vô hiệu.
Đám đông làm dữ quá. Một nhà sư trẻ đã nhảy lên được nóc đài Phát thanh và cắm cờ Phật giáo. Khi cắm Phật kỳ xong đám đông càng thêm phấn khởi hô to vang dội. Từ lúc đó, chung quanh Đài, Phật kỳ bay rợp trong ánh sáng như vùng hào quang đêm hoa đăng. Biển người nhấp nhô chuyển động và bắt đầu như con thuyền trăm tay lái. Đám đông này sẽ vỡ như tổ ong. Một số ít nhân viên công lực đành khoanh tay và lúc ấy đám đông đang làm chủ tình hình. Khi đám đông bộc phát trong ngọn lửa của nhiệt tình tôn giáo thì thiết tưởng không có gì chế ngự được. Lúc ấy họ chỉ biết vâng phục một thứ thần quyền qua ngọn cờ tôn giáo.
Quản đốc Ngô Ganh cũng như Tỉnh trưởng Nguyễn văn Đẳng gần như mất hết bình tĩnh. Lúc ấy nhà cầm quyền phải triệu thỉnh Thượng tọa Trí Quang, Thượng tọa Trí Quang tuy có kêu gọi Phật tử phải nên bình tĩnh nhưng đám đông mỗi lúc một thêm cuồng nhiệt.
Trung tá Thưởng tỏ ra vô cùng lo ngại nên một lần nữa gọi điện thoại cho Thiếu tá Sỹ hối thúc: “Anh còn đợi gì nữa? Anh còn chần chờ gì nữa? Anh còn chần chờ gì nữa mà không bắt đầu đi” Dù ông Sỹ đã cho hai tiểu đội quân cảnh cùng hiến binh và cảnh sát đi giải tán nhưng họ đành khoanh tay không thể làm gì được hơn. Trung tá Thưởng phải thân hành đến quân trấn hối thúc ông Sỹ.
Thiếu tá Sỹ cho hai trung đội tiến ra theo đội hình hàng ngang. Kể từ lúc ấy, đồng bào Phật tử cũng bắt đầu lo việc bố phòng… Các xe đạp được đưa ra chắn ngang đường. Thanh niên Phật tử lẫn lộn bên cạnh các bà các cô và thiếu nhi để tạo thành vòng rào ngăn chặn nhân viên công lực.
Từ trên nóc Đài Phát thanh một nhà sư trẻ cầm chiếc loa kêu gọi Phật tử hãy tiến lên không sờn lòng trước bạo lực. Nhà sư lại nhấn mạnh là đang có sư đoàn từ Đà Nẵng tiến vào để hỗ trợ cho cuộc đấu tranh vì Đạo pháp. Nhà sư vừa dứt lời, đám đông bỗng náo nhiệt hẳn lên nhiều tiếng la ó hoan hô vang dậy.
Tại Tiểu khu Thiếu tá Đặng Sỹ duyệt xét kế hoạch lần cuối cùng với các sĩ quan như Đại úy Phu, Đại úy Lược, Trung úy Kỳ. Ông Sỹ quyết định dùng xe cơ giới của Bảo An (thứ xe có 4 bánh cao lênh khênh) để mở đường, lính tiến sau xe. Một sĩ quan cho rằng dùng xe mở đường rất hay, đồng bào thấy xe đạp bị cán sẽ xót, do đó cũng tự động vác xe lên hè phố, như thế binh sĩ mới có thể tiến được, ý kiến quả hiệu nghiệm, khi xe Thiếu tá Sỹ tiến lên, theo Trung sĩ Quang (thuộc tiểu khu Thừa Thiên) thì xe đi với một tốc độ như rùa. Xe tiến tới đâu thì đồng bào đổ xô ra đường vác xe lên hè phố. Ai cũng biết dân miền Trung nghèo khổ, nên chiếc xe đạp luôn luôn là một bảo vật.
Nhờ vậy cuộc tiến quân diễn ra êm thắm. Tuy nhiên theo ông Nguyễn Nghiễm khi đồng bào thấy xe và lính thì không khí tranh đấu bỗng dưng bùng lên cực mạnh. Bao nhiêu con mắt đều đổ dồn về phía ông Sỹ và có nhiều tiếng chửi thề. Có Phật tử lại gọi đích danh Thiếu tá Sỹ ra mà chửi. Thế rồi gạch đá, guốc, vỏ la ve bay như bướm. Theo ông Nguyễn Nghiễm lúc ấy tinh thần đồng bào lên quá cao.
Chính Nguyễn Nghiễm cũng có cảm tưởng như mình đang dự vào cuộc thánh chiến và sẵn sàng xả thân cho đạo pháp. Cho đến lúc ấy chương trình phát thanh vẫn ngưng bặt và chỉ còn tiếng la ó của đám đông. Mô tả đám đông này, ông Nguyễn Nghiễm cho rằng, chưa có lễ Phật đản nào (trước l963) lại đông người và phấn khởi như vậy.
Trên xe, Thiếu tá Sỹ mặc áo giáp cùng với hai hạ sĩ quan là Trung sĩ Tư và Quang… Gạch đá ném lên xe nhiều quá nhưng vì có mũ sắt và áo giáp nên không ăn nhằm vào đâu. Ông Sỹ vẫn cho xe tiến lên từ từ.
Xe tiến đến đâu thì đồng bào dạt ra hai bên đường, trông cảnh tượng rất ngộ. Dù chạy thì chạy nhưng ai nấy không quên dắt xe theo.
Ông Sỹ được một phen nghe chửi rát tai.
Trong khi đó, ba xe phóng thanh của Ty Thông tin luôn luôn kêu gọi đồng bào giải tán. Văn phòng Cố vấn chỉ đạo của ông Cẩn lại có vẻ bình thản vì không ai ngờ thảm họa sẽ xảy ra. Cho đến lúc ấy Văn phòng của ông Cẩn không có một liên lạc nào với Trung ương. Từ Thiếu tướng Nghiêm đến ông Hồ Đắc Thương, ông Cẩn và bộ Tham mưu ai cũng chỉ lo sợ một điều là Đài Phát thanh bị chiếm và một khi bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang được phát thanh thì coi như mấy tai họa cùng ập đến cho mấy ông lớn, vì bài thuyết pháp đó như trên đã viết công kích chính quyền mạnh quá và tất cả đều sợ trách nhiệm đối với Tổng Thống
Thực nếu không sử dụng quân đội thì lực lượng an ninh thành phố Huế không thể nào giữ nổi Đài Phát thanh. Ai có mặt trong đêm 8-5 mới thấy rõ sức mạnh của quần chúng. Sức mạnh đó khi được khơi động bằng lý tưởng tôn giáo và được hướng dẫn bởi một số huyền thoại lãnh tụ thì đó là sức mạnh của giông bão.
Tiếng nổ rung chuyển cả nước
Chiếc xe cơ giới của Thiếu tá Sỹ tiến đến gần Đài phát thanh khoảng 50 thước, bỗng có một tiếng nổ kinh hồn và tiếp theo là những tiếng nổ khác. Lúc ấy là 10g30.
Xe của ông Sỹ quay khựng lại, một hạ sĩ quan la lớn “Nổ, Thiếu tá coi chừng Việt cộng Thiếu tá” Ông Sỹ rút khẩu Colt 12 cầm tay, nói qua máy nghe “Nghe đây, nghe lịnh Đại bàng đây”.
Theo sự mô tả của một số sĩ quan có mặt ở gần Đài lúc ấy thì tiếng nổ làm rung chuyển tất cả, thứ ánh sáng từ tiếng nổ phát ra giống như một tia sét và trong đời binh nghiệp của họ thảy đều chưa nghe thấy một tiếng nổ nào lạ tai như vậy.
Sau tiếng nổ, ông Nguyễn Nghiễm cho biết cảnh tượng trở nên vô cùng hỗn loạn trong sự kinh hoàng. Đồng bào xô đẩy nhau tìm đường thoát thân. Bao nhiêu tiếng khóc kêu la. Các đường xung quanh Đài Phát thanh vốn nhỏ hẹp nên lại càng thêm tắc nghẽn. Đồng bào bỏ cả xe, guốc dép và tìm đường thoát thân. Trẻ con đàn bà khóc như ri. Ông Nguyễn Nghiễm đứng cách chỗ nổ khoảng 50, 60 thước, cảm tưởng của ông lúc ấy giống như người bị mất trí, người thì ngất ngư, hai mắt hoa lên, tay chân luống cuống không biết chạy đâu.
Sau tiếng nổ đầu, khoảng 4, 5 phút sau ông Nguyễn Nghiễm nghe thấy 3, 4 tiếng súng lục từ phía xe của Thiếu tá Sỹ và tiếng la lối của mấy quân nhân trên xe. Ông Nguyễn Nghiễm thấy tức nơi ngực, ông chạy khỏi Đài một quãng xa mới đứng dừng lại. Nguyễn Hữu Cang chạy thoát qua cầu Tràng Tiền. Khi tiếng nổ xảy ra, Nguyễn Hữu Cang ở ngay gần Đài. Tiếng nổ quá lớn làm anh xây xẩm và lảo đảo. Một mảnh thịt người văng tung vào mặt Nguyễn Hữu Cang, cho đến nay Nguyễn Hữu Cang vẫn không thể xóa nhòa được cảnh tượng bi thương hôm ấy.
Trong khi đồng bào xô đẩy nhau chạy thoát thân, đồng bào luôn luôn được nghe tiếng người ta hô hoán “Chạy lẹ đi, nó bắn chết hết bây giờ”. Hoặc những tiếng la lối như “Bà con chạy lối ni… đồng bào đừng về lốí nớ… Đặng Sỹ nó đang cho xe cán đồng bào ở lối nớ…”
Đám đông quần chúng đã hỗn loạn lại càng thêm hỗn loạn.
Về phía Thiếu tá Sỹ, khi nghe hai tiếng nổ, ông hét lên qua máy nói: “Việt cộng phá Đài, nghe tôi. Nghe tôi Đại bàng đây Việt cộng tấn công Đài”.
Dứt lời ông Sỹ rút “Colt 12” bắn chỉ thiên ba phát theo hiệu lệnh. Thiếu tá Sỹ lại ra lệnh: “Việt cộng tấn công đài, áp dụng lệnh Đại bàng”.
Lệnh trên được truyền ra, thế là 10 tay súng được chỉ định từ trước đều giơ cao nòng súng lên không trung và nhả đạn. Họ chỉ được phép bắn chỉ thiên mà thôi. Đồng thời lúc đó, các quân nhân sử dụng lựu đạn MK3 cũng đồng loạt cho nổ qua 15 địa điểm khác nhau. Có anh ném MK3 xuống phía bờ sông. Có anh ném trong sân trường Văn khoa, có anh ném gần ngay câu lạc bộ thể thao.
Quân đội bắt đầu chuyển dịch và bắt tay vào hành động. Xe của Thiếu tá Sỹ đứng trước Đài. Chao ơi cảnh tượng thê lương chưa từng thấy. Không một xác chết nào được toàn thây. Có nạn nhân, đầu bị thổi bay cách Đài cả chục thước, cẳng giò cũng bay đi đâu mất tiêu, gan ruột phèo phổi bay lên cả cành cây, tung tóe ra khắp nơi, tất cả cửa kính của Đài bị bay đi hết. Cảnh tượng ấy theo những người chứng kiến, có thể nói không bút nào tả hết được sự thê lương. Tiếng nổ đó không do mảnh mà chỉ do hơi. Sức hơi ép ước khoảng tương đương với 5 kílo thuốc nổ TNT. Nạn nhân chết không do mảnh mà do hơi ép. Sức hơi ép ấy làrn nạn nhân tan xác. Trung sĩ Tư đến cách Đài 30 thước bỗng dưng đứng khựng lại, hô thất thanh: “Bớ đầu người ta đây nè” Một chiếc đầu nạn nhân ở ngay dưới chân ông ta. Theo ông Tư chiếc đầu đó không còn là đầu người nữa. Ông ta chỉ thấy hàm răng dính vô một mảng thịt.
Một loạt liên thanh nổ lên trời. Thiếu tá Sỹ Colt 12 cầm tay, mặt thất sắc nói không ra lời, ông cố ra lệnh cho thuộc viên “coi chừng, nó có thể tấn công Đài bây giờ”. Sau đó… ông Sỹ vào thẳng bên trong Đài. Vừa trông thấy Thượng tọa Trí Quang, ông Sỹ đã mất bình tĩnh nói lớn: “Làm sao thế này. Sao có người chết như thế này”. Những người có mặt trong Đài lúc ấy đều tỏ ra lo sợ và mất hết tinh thần. Ông Đẳng mặt tái xanh ngơ ngác. Tại họa xảy ra bất ngờ quá không ai tưởng tượng nổi. Thượng tọa Trí Quang cũng vậy thảy đều không giữ được bình tĩnh. Thượng tọa Trí Quang chắp tay vào nhau như nguyện cầu nói trong cơn lo âu: “Tôi không ngờ lại xảy ra như thế này”. Thiếu tá Sỹ bảo Thượng tọa Trí Quang: “Thầy phải chịu trách nhiệm về những hậu quả đã xảy ra như thế này”. Ông Sỹ lại dằn giọng nhắc lại: “Tại sao lại xảy ra như thế này?”.
Trung tá Thưởng Giám đốc Nha Công an Tư pháp như không nén được cơn tức giận. Ông lừ mắt nhìn mọi người rồi nói với Thượng tọa Trí Quang: “Ông phải chịu hết trách nhiệm” – Ông Thưởng lại nói: “Ai gây ra tai họa thì phải chịu hết trách nhiệm” – Lúc ấy, Thượng tọa Thiện Minh đứng bên Thượng tọa Trí Quang với một thái độ khá ôn tồn và khiêm tốn nói với Thiếu tá Sỹ cũng như Trung tá Thưởng “Chuyện đã xảy ra như thế này, thì không biết nói sao. Tôi xin chịu hết trách nhiệm”.
Lúc bây giờ chung quanh Đài không còn một ai ngoài quân đội và nhân viên công lực. Đồng bào đã chạy dạt sang bên kia cầu và đang tụ tập ở phía chợ Đông Ba khoảng 5, 7 trăm người. Những nạn nhân bị thương được chuyển gấp đến nhà thương Huế. Nạn nhân bị tử thương ngay lúc đầu đã không có cách nào để nhận ra, có bao nhiêu người nam hay nữ, già hay trẻ vì như trên đã viết, nạn nhân chết không toàn thây, da thịt bay tứ tung.
Lúc ấy một viên chức Mỹ đến đây để lo chụp hình quay phim, nhưng bị nhân viên công lực đuổi khỏi. Vợ chồng bác sĩ Wuff người Đức thuộc Đại học Y khoa Huế tìm cách vào trong Đài xin để săn sóc nạn nhân nhưng bị từ chối. Chính bác sĩ Wuff này đã lanh tay chụp được mấy tấm hình, một vài chiếc xe cơ giới của Bảo an lúc ấy đang đậu ngay trước Đài (nội sáng 9-5 tấm hình này đã được gởi về Sài Gòn và mấy ngày sau xuất hiện trên báo chí Tây Đức, Pháp, Mỹ. Một chi tiết cần lưu ý là năm 1965, ba bác sĩ người Đức của Đại học Y khoa Huế trong đó có bác sĩ Wuff người đã chụp hình và ráp nối hình đêm 8-5-1963 đều bị an ninh của sư đoàn I dưới thời tướng Nguyễn Chánh Thi làm Tư lệnh trong một cuộc hành quân tại khu Nam Đồng đã khám phá được tài liệu mật, cho biết rằng 3 bác sĩ người Đức trên đây đều là người Đông Đức, vượt qua Tây Đức và là những điệp viên Cộng sản thuộc loại quốc tế. Nhưng lại có giả thuyết cho rằng họ thuộc loại gián điệp).
Khoảng 11 giờ đêm đồng bào Phật tử lại nhốn nháo, người thì lo tìm các Thầy bị bắt, người thì xốn xang không biết nạn nhân có phải là vợ con mình hay không. Đồng bào tìm cách vượt qua cầu Tràng Tiền tiến sang Đài Phát thanh. Cầu Tràng Tiền lúc đó ngổn ngang không biết bao nhiêu guốc dép. Không khí bỗng dưng sôi nổi. Một Phật tử từ phía Đài sang bên Đông Ba kêu gọi đồng bào phải có thái độ ngay, vì các Thầy bị bắt rồi và xe tăng cán người ta chết nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Thế là trong cơn hăng say, một số đồng bào lại kéo nhau qua Đài.
Ông Nguyễn văn Đẳng lo âu lắm, bảo với Thiếu tá Sỹ: “Việc đã xảy ra như vậy rồi, Thiếu tá cứ an tâm, tôi sẽ trình với Tổng Thống về vụ này”. Đám đông tiến về phía Đài bắt đầu sôi dộng, nhiều tiếng la ó. Thiếu tá Sỹ thấy vậy chạy vào mời Thượng tọa Trí Quang ra coi và nói: “Thầy nhìn kia, bây giờ mà còn làm tới nữa. Thầy bảo bọn họ về ngay đi, đừng làm cái trò đó nữa”. Thượng tọa Trí Quang vui vẻ nhận lời và nói với các Phật tử: “Các con về đi. Các Thầy không sao cả”. Đám đông nghe thèo lời tự động kéo về nhưng trong lòng rất dao động, bất mãn và ai cũng nóng ruột muốn tìm hiểu xem có bao nhiêu nạn nhân bị gục ngã.
Ai là thủ phạm
Giới chức chính quyền Thừa Thiên bắt đầu lo sợ không biết giải quyết như thế nào và thượng cấp sẽ tỏ thái độ ra sao. Hầu hết đều yên trí rằng đây là một vụ do Cộng sản chủ động. Việc cấp thời lúc ấy là cho di tản các nạn nhân bị thương vào bệnh viện.
Mặt khác, nhân viên hữu trách cho người đi lượm từng mảnh thịt, từng khúc xương, từng bàn chân của nạn nhân bị tử nạn. Theo Đại úy Minh trong số nạn nhân này có một thiếu nữ đã chịu phép rửa tội theo đạo Thiên chúa. Suốt đêm mùng 8 nhân chứng Nguyễn Hữu Cang cũng như ông Nguyễn Nghiễm và nhiều lãnh đạo Phật tử đã gần như thức trắng đêm, vừa hoang mang lo âu vừa căm tức chánh quyền đã gây ra vụ nổ đó. Lại có nguồn tin loan truyền trong giới Phật tử là Thiếu tá Sỹ đã cho xe thiết giáp “đằn” Phật tử và ném lưu đạn vào Phật tử.
Trong khi đó tại Bộ Tham mưu Tiểu khu từ Thiếu tá Sỹ đến Đại úy Phu, Đại úy Lược không dấu nổi sự lo âu. Người trong cuộc cũng không hiểu đầu đuôi ra thế nào. Hai tiếng nổ từ đâu? Do ai? Cảm tưởng đầu tiên của họ là bàng hoàng. Tiếng nổ lạ tai quá cũng không giống như plastic, lựu đạn lại càng vô lý. Nhưng không ai có thể suy đoán ra được. Người nghe tiếng nổ đầu tiên là ông Sỹ cũng như một số sĩ quan và binh sĩ trên xe cũng như đi sau xe. Họ đều bị chói tai và áp lực của tiếng nổ làm cho họ không còn phản ứng lúc đầu và ngực như bị một vật gì rất nặng đập ngang.
Có điều lạ là sáng hôm sau ông bác sĩ Wuff đã có một số hình ảnh về vụ nổ, trong đó có tấm hình xe cơ giới đang “đằn” qua đồng bào Phật tử. Một số hình này bác sĩ Wuff trao cho Bác sĩ Lê Khắc Quyến. Ngày 9, ông Quyến cấp tốc về Sài Gòn.
Ai gây ra tiếng nổ? Trong phiên tòa xử Thiếu tá Đặng Sỹ, các chuyên viên quân cụ đã có dịp phân tích các loại chất nổ như M.26… MK.3… Giả thuyết về M.26 đã bị loại – giả thuyết MK3 mặc dầu tòa đặc biệt lưu ý nhưng cuối cùng cũng bị loại. Như trên đã viết MK.3 có thể làm cho người chết được vì áp lực hơi nổ, nhưng tác dụng không thể nào đạt tới con số thương vong cao như vậy nhất là trong một khoảng trống. Mà nơi phát ra tiếng nổ thì nền xi măng lại chỉ lõm xuống không sâu bao nhiêu.
Thủ phạm mang tên Scot
Mãi sau này, năm 1966 trong cuộc hành quân ở Nam Đồng, Đại úy Scott (Cố vấn của tiểu đoàn 1/3 – từ năm 1965) mới cho biết về một sự thật.
Dạo ấy năm 1965, miền Trung đang bắt đầu sôi động và ngút ngàn trong ngọn lửa Phật giáo đấu tranh. Trong một buổi mạn đàm Đại úy Bửu nói chuyện trăng gió mây nước với Đại úy Scott rồi hai người “bắt” qua chuyện Phật giáo tranh đấu. Đại úy Scot, nói đại ý:
“Phật giáo miền Trung sẽ không thành công trong vụ này”.
Ông Bửu hỏi: “Tại sao lại không thể thành công?”.
Đại úy Scott đáp: “Phật giáo không tạo được những yếu tố để thành công như năm 1963”
Đại úy Bửu hỏi: “Đại úy muốn nói tới những yếu tố nào?”
Đại úy Scott nói: “Những yếu tố không phải do Phật giáo có thể tạo được”.
Đại úy Bửu: “Đại úy muốn nói đến tiền bạc hay khí giới tinh thần”.
Đại úy Scott đáp: “Khí giới tinh thần thì Phật giáo có đấy chứ, nhưng không dễ gì thành công vì không được đồng minh ủng hộ”.
Đại úy Scott lại nói: “Hoa Kỳ đã giúp cho Phật giáo nhiều yếu tố để thành công trong vụ 1963”.
Đại úy Bửu nói: “Bây giờ Hoa kỳ sẽ không còn giúp đỡ Phật giáo nữa?”.
Đại úy Scot: “Bây giờ thì tôi không biết, nhưng vụ 1963 tôi biết rõ”.
Đại úy Bửu lấy làm ngạc nhiên tại sao một Đại úy như Scott lại có thể am tường nội tình Phật giáo Việt Nam như vậy. Đại úy Bửu hỏi tiếp: “Năm 1963 Đại úy ở đâu?”. Scott không đáp thẳng vào câu hỏi và tựa hồ trong lòng ông còn ẩn giấu bao nhiêu điều bí mật. Sau đó Scott tâm sự: “Tôi hiểu rõ Phật giáo ở đây, có thể còn hơn cả các anh. Tháng 5-1963 tôi ở Đà Nẵng. Tôi trở ra Huế một ngày trước khi vụ nổ xảy ra tại Đài Phát thanh Huế”.
Đại úy Bửu hỏi ngay: “Như vậy thì Thiếu tá Đặng Sỹ Phó Nội an cho nổ?”
Scott đáp: “Làm gì có chuyện đó, tội nghiệp cho ông ta. Bây giờ ông ấy đang bị tù phải không?”
Đại úy Bửu: “Hiện Thiếu tá Sỹ đang bị cầm tù. Ông ấy bị kết tội đã đàn áp Phật giáo và làm chết tám Phật tử tại Đài phát thanh”
Lời Scot: “Không ai nói thẳng sự thật để bênh vực ông ấy?”
Đại úy Bửu hỏi: “Vậy anh có tin là Thiếu tá Sỹ là thủ phạm vụ nổ tại Đài Phát thanh không?”
Đại úy Scott nói: “Thiếu tá Sỹ cũng chỉ là một nạn nhân”.
Hỏi: “Theo Đại úy ai là thủ phạm trong vụ này?”.
Đại úy Scott lắc đầu, “Chuyện còn dài lắm. Tôi sẽ kể cho anh nghe”.
Trả lời tiếng nổ thuộc về loại nào, Đại úy Scott nói: “Tại sao người ta lại tin đó là tiếng nổ của plastic Việt cộng và lựu đạn của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa?”
“Cú Scott”
Đại úy Bửu chính là em họ bên vợ của Thiếu tá Sỹ ông cố bám sát Scott và tìm lời dò hỏi xem đầu giây mối nhợ như thế nào. Lúc đầu Scott thổ lộ rằng chính người bạn của ông là một nhân viên CIA đã làm vụ đó. Scott mô tả chất nổ đó là một chất đặc biệt của Trung ương Tình báo Mỹ. Thể tích của nó không lớn hơn bao quẹt và có riêng bộ phận để điều khiển. Bộ phận này sẽ “căn giờ” chừng nào nổ.
Ít lâu sau, do nhiệt tâm tìm hiểu của Bửu, Đại úy Scott đã phanh phui tất cả sự thật, ông ta có lẽ vì “lương tâm” xúc động cho nên tâm sự rằng, chính mình đặt thứ khí giới đặc biệt đó tại Đài Phát thanh.
Scott hay ai cũng chỉ là một thứ thừa hành. Ai ra chỉ thị? Washington hay Tòa Đại sứ hay ông trùm CIA? Hay Đại tướng Richarson? Dưới thời Tổng Thống Kennedy, tổ chức Việt Nam Task Force được coi như có thẩm quyền mạnh nhất trước các quyết định về Việt Nam do Hilsman cầm đầu. Ngay từ năm 1962, Hilsman đã chủ trương lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm và người Mỹ phải có thái độ tích cực hơn đối với các vấn đề Việt Nam, có nghĩa là Mỹ phải trực tiếp can dự vào cuộc chiến, Mỹ phải nắm quyền chủ động tại chiến trường Việt Nam. Hilsman không phải nhân viên tình báo chuyên nghiệp nhưng trong quá khứ ông là một cộng tác viên tích cực của CIA.
Hilsman thuộc giới trẻ và khuynh hướng tự do (ông đã công khai chống đối Đại sứ Nolting và chịu sự chi phối của một số ký giả Mỹ cho rằng Đại sứ Nolting quá nhu nhược với chính quyền Ngô Đình Diệm và cũng lên án Nolting đã bị chính quyền Ngô Đình Diệm mua chuộc). Đã từ lâu phe Hilsman chủ trương thay thế Đại sứ Nolting. Ông Nolting lại là một nhà ngoại giao thuần túy. Ngôn ngữ, cử chỉ của ông có vẻ Tây hơn Mỹ. Ông bị ảnh hưởng của văn hóa Pháp khá sâu xa. Sự thật là lập trường của Đại sứ Nolting là ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm và ông được coi là người Mỹ mềm dẻo nhất tại Việt Nam Cộng Hòa.
Năm 1963, Phòng Trung ương Tình báo tại tòa đại sứ Mỹ có khoảng 50 nhân viên (sau năm 1963 và cho đến nay số này đông vô kể) Đại tá Richarson là ông trùm CIA tại Nam Việt Nam lúc đó dưới quyền ông Smith. Nhưng Richarson lại tỏ ra đồng một lập trường với Đại sứ Nolting. Sau này ông Nhu tố cáo Richarson âm mưu đảo chính, ông Nhu tố sai, tuy vậy Richarson bị cấp tốc thay thế. Ông Nhu mất một Mỹ CIA ủng hộ. đấy cũng là một tính toán lầm của ông Nhu.
Nếu nói rằng CIA tại tòa Đại sứ Mỹ chủ động vụ nổ tại Đài Phát thanh thì không đúng. Nhưng CIA không phải chỉ ở tòa Đại sứ Mỹ mà họ có đường dây hoạt động biệt lập với phòng CIA của Đại tá Richarson và chỉ trực tiếp với Washington. Do đó, “cú Scot” tại Đài Phát thanh Huế cũng chỉ là một cú “chơi lẻ”.
Ngay từ những năm 1961, 1962 nhân viên Trung ương tình báo Mỹ đã gài người trong nhiều cơ quan như USAID kể cả những tổ chức văn hóa, giáo dục.
Nhờ vậy, CIA đã thừa khả năng nhân sự để chơi những “cú lẻ” tương tự như trên.
Người ta tự hỏi rằng, hà tất gì CIA phải nhập cuộc như vậy qua vụ nổ Scott tại Đài Phát thanh Huế? Câu chuyện thật dài dòng phức tạp và khó có thể kết luận cho vấn nạn trên đây nếu không có căn cứ theo những diễn biến trong cuộc bang giao Việt Mỹ 1964 cùng những toan tính của Mỹ trong chiến lược của họ tại Việt Nam. Giới chức Mỹ nhất là phía CIA đã thuộc lòng phương thức này: Những lãnh tụ Á đông phải dùng bạo lực mới có thể đánh đổ họ xuống được.
Nhưng lúc ấy không ai nghĩ CIA nhúng tay “tinh vi” như vậy mà người ta nhất định cho rằng Cộng sản làm vụ này.
Riêng ông Cẩn trước cái họa như vậy và khi nghe tường trình nội vụ rồi im lặng triền miên nhưng đành bất lực không biết phải giải quyết như thế nào. Theo Đại úy Minh đã có ba ý kiến được nêu lên như sau:
1- Đã xảy ra như vậy thì làm tới luôn. Sáng ngày 9, ban hành lệnh giới nghiêm tại thành phố. Đồng thời cô lập giữa chùa Từ Đàm với các cán bộ Phật tử. Trong khi đó cơ quan an ninh sẽ truy lùng những thành phần Việt cộng khả nghi từ bấy lâu nay.
2- Nếu không giải quyết theo cách một thì cấp tốc phải tìm tới gia đình các nạn nhân để điều đình thu xếp ổn thỏa và bồi thường xứng đáng.
3- Cách hai không đồng ý thì phải thương thuyết với mấy thầy chùa Từ Đàm và nhờ các thầy xoa dịu đồng bào Phật tử và đồng thời sẽ bồi thường nạn nhân một cách đầy đủ.
Cả ba phương thức giải quyết đưa ra ông Cẩn không có một thái độ nào rõ rệt. Ông Cẩn ra lệnh cho Tòa Đại biểu đánh điện cấp tốc về Sài Gòn để xin quyết định. Một việc nóng bỏng như vậy nhưng mãi hai ngày sau Sài Gòn mới phái ông Bùi văn Lương Bộ trưởng Nội vụ ra Huế tìm cách giải quyết tại chỗ.
Trong số những phương thức được đưa ra để giải quyết có một phương thức khá nguy hiểm. Hoàng Trọng Bá cho rằng, ngoài việc giới nghiêm toàn thể ngày 9-10 chính quyền phải cho mời ngay Thượng tọa Trí Quang và Thiện Minh vì ai cũng biết hai vị này là nòng cốt của Giáo hội Phật giáo miền Trung. Ý kiến ấy như thế này:
“Ông Cố vấn (tức ông Cẩn) sẵn “hồ sơ tối mật” của hai thầy (ông Cẩn có thể dùng những hồ sơ đó như một điều kiện giao tế) và cho rằng khi đã nắm được những “a tu” của mấy vị tất sẽ dễ dàng khu xử và những cái gọi là “bí ẩn” trong đời sống cá nhân cùng những hoạt động từ năm 1945-1955. Ý kiến trên căn cứ theo đó xin với ông Cẩn cho an ninh “mời” ngay hai thầy lại và sẽ đưa ra điều kiện để dọa: Hồ sơ hai thầy như thế, như thế, hoạt động quá khứ như vậy… như vậy. Do đó, 1 là mấy thầy bỏ qua nội vụ và để chính quyền lo việc bồi thường. Hai là nếu không chính quyền sẽ bắt giữ rồi công khai hóa “hồ sơ tối mật” đã nắm giữ từ dạo năm 1956 trong khi đó chính quyền sẽ dùng phương thuật “phóng tại hóa thu nhân tâm”, bồi thường nạn nhân xoa dịu Phật tử, mua chuộc các thầy khác”.
Ý kiến trên có vẻ bá đạo, nhưng Hoàng Trọng Bá tin chắc chắn sẽ có hiệu nghiệm. Cuối cùng lại không được chấp nhận.
Sáng 9-5 Đại úy Minh túc trực tại Văn phòng chỉ đạo từ sớm. Ông Cẩn chỉ thị tìm mọi cách giải quyết sao cho êm đẹp.
Về phía Phật giáo tại chùa Từ Đàm thì ngay đêm 8, sau vụ nổ, nhiều Thượng tọa cũng dao động không biết sự thể sẽ xảy ra như thế nào. Hầu hết đều ngán thứ “uy quyền” trong tay ông Cẩn (trên thực tế uy quyền đã suy giảm từ năm 1961) cho nên không một Thượng tọa, Đại đức nào đủ bình tĩnh để trù tính kế hoạch cho ngày hôm sau ngoại trừ một hai thầy đã có mưu kế riêng.
Mấy Thượng tọa lại lo sợ chính quyền sẽ áp dụng biện pháp mạnh, và có thể tan rã hàng ngũ mà các thầy đã dầy công xây đắp từ mấy chục năm qua. Riêng Nguyễn Nghiễm trong thâm tâm nghĩ rằng, sẽ có sự bắt bớ vào sáng mai và ông đã trù tính trốn nếu sự thể không êm. Nhưng lại có một khuynh hướng tích cực khác cho rằng, phải lợi dụng ngay biến cố này để làm lớn chuyện. Đây là cơ hội ngàn năm một thuở. Đứng đầu khuynh hướng này là Thượng tọa Thiện Minh.
Theo Nguyễn Nghiễm, Thượng tọa Trí Quang tuy là người lên tiếng và phát động đầu tiên (qua bài thuyết pháp) nhưng ngay từ ngày 7 đến ngày 9 vai trò của Thượng tọa Thích Thiện Minh mới là quan trọng và chủ động. Vì Thượng tọa này có lập trường dứt khoát cho rằng, phải lợi dụng ngay biến cố đẫm máu kể trên để hướng đồng bào Phật tử về một mục đích sống chết cho đạo pháp. Việc đầu tiên, nếu như ngày 9 êm xuôi thì phải đứng lên, thời cơ đã đến.
Sáng 9-5, chính quyền lo sợ bên chùa Từ Đàm sẽ làm tới, nên ông Cẩn muốn dùng “tấm tình cố tri” với mấy thầy để giải quyết. Song nội bộ chùa Từ Đàm tuy đoàn kết nhưng ý kiến rất phân tán, do dự và không ai ngờ phía ông Cẩn lại mềm dẻo như vậy.
Trụ cột là ông Cẩn. Và chính quyền địa phương chỉ chờ đợi sự giải quyết của ông Cẩn thì ông Cẩn lại không có một quyết định nào. Mọi sự đều nhờ Trung ương. Suốt buổi sáng ngày 9, ông Cẩn rất bận rộn: nào là tiếp Thượng tọa Trí Quang, nào là tiếp các giới chức liên hệ. Ông Cẩn vẫn không tìm ra được phương thức nào thu xếp ổn thoả. Một cách đơn giản nhất, ông Cẩn chỉ dùng tiền mua chuộc những người liên hệ và mặt khác cho người tiếp xúc riêng với các gia đình nạn nhân để dàn xếp.
Về phía Từ Đàm, chỉ cần một buổi sáng “tiếp xúc và hòa hoãn” đã trắc nghiệm được phản ứng của phía chính quyền và thấy rằng, chính quyền không dám làm tới, do đó cần phải bắt tay hành động. Việc đầu tiên là phải yêu cầu chính quyền trả xác các nạn nhân về chùa Từ Đàm để nhà chùa lo phần ma chay chôn cất.
Lời yêu cầu này không được thỏa mãn vì phía ông Cẩn đã lượng tính được hậu quả và biết thế nào cũng có biến chuyển rất nguy hiểm nếu phía Từ Đàm tổ chức chôn cất nạn nhân.
Trong khi ở Huế c̣n đang giằng co dàn xếp thì tại Sài Gòn vẫn có vẻ yên tĩnh lắng đọng. Tại dinh Gia Long, khi nhận được tin về vụ nổ Đài Phát thanh Huế, Tổng Thống Diệm vẫn yên trí rằng Cộng sản len lỏi vào, sách động và gây tiếng vang để quy tội cho chính quyền đàn áp Phật giáo.
Ngày 9 và ngày 10, ông Tổng Thống vô cùng đăm chiêu. Nguồn tin và báo chí ngoại quốc – nhất là Mỹ, Pháp đều không đồng nhất. Tổng Thống Diệm vẫn đinh ninh câu chuyện sẽ giải quyết êm đẹp, không có gì quan trọng gọi là đại sự. Phía Phật giáo tại Sài Gòn cũng chưa có một phản ứng nào khác hơn là xôn xao bàn tán và cũng mới chỉ biết biến cố qua báo chí dư luận và nhất là bản tin của Đài VOC, BBC.
Tòa Đại sứ Mỹ qua ngày 9 và ngày 10 vẫn giữ thái độ yên lặng dè dặt. Ngay trong hàng lãnh đạo Phật giáo tại Huế cũng như Sài Gòn không ai ngờ rằng biến cố có thể lan rộng và trở thành cơn giông tố. Nếu như chính quyền Trung ương lúc đó có một quyết định dứt khoát để giải quyết cấp thời thì vụ Phật giáo cũng không nổ to và có thể thu xếp được ngay từ buổi đầu.
Trước một biến cố như vậy, không thể giải quyết bằng đường lối hành chính, luật pháp và công quyền, mà phải giải quyết bằng những biện pháp chính trị với tính cách uyển chuyển, thích nghi và thông suốt. Đằng này, Tổng Thống Diệm lại chờ đợi giới chức Thừa Thiên báo cáo sau đó mới cử ông Bộ trưởng Nội vụ ra điều tra tại chỗ.
Biến cố tại Đài Phát thanh Huế sẽ không thể bùng nổ to nếu không có sự lợi dụng những mâu thuẫn giữa ông Ngô Đình Cẩn và Đức cha Ngô Đình Thục và nhất là nếu không có sự đổ dầu vào lửa của tòa Lãnh sự Mỹ tại Huế. Một vài Thượng tọa thuộc phe “tích cực dấn thân” như Thượng tọa Trí Quang, Đôn Hậu vì có tình quen biết với ông Cẩn nên cứ làm tới trước hết, không phải là để “chơi” ông Cẩn mà có ý biểu dương lực lượng cho Đức Cha Thục coi. Sau khi trắc nghiệm thấy có thể làm được thì làm tới luôn. Lúc đầu, ông Cẩn lại chủ quan tin rằng:
Các thầy chùa Từ Đàm nể ông và vì tình riêng ông sẽ không làm mạnh cho nên lập trường của ông Cẩn lúc đầu hết sức dè dặt và tìm mọi phương thương nghị. Đêm 9 ông Cẩn tâm sự với mấy nhân vật thân cận như Đại úy Minh, Hoàng Trọng Bá, Hồ Đắc Trọng: “Dù là Cộng sản nó gây ra như vậy thì mình cũng có trách nhiệm. Sáng nay thầy Trí Quang gặp tui, thầy ấy có buồn phiền nhưng sau nói riết, thầy ấy cũng vui vẻ nhận lời thu xếp”.. Thực tế thì sáng 9-5, khi gặp ông Cẩn, thầy Trí Quang cũng không có gì là quá “găng”. Thượng tọa Thiện Minh lại quá “thâm trầm” nên không ai thấy rõ thầy Minh muốn gì, sẽ làm gì. Nhưng Thượng tọa Trí Quang có sự nóng tính và qua sự nóng tính đó đã nhiều lần thầy Trí Quang biểu lộ sự bất mãn về Đức Cha Ngô Đình Thục cùng sự “hiện diện quyền uy” của Đức cha tại Huế. Điều mà chính ông Ngô Đình Cẩn cũng tỏ ra khó chịu và bất mãn. Bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang sáng 8-5 có ý nhằm vào Đức Cha Ngô đình thục hơn là chính quyền Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu.
Có nhẽ vì thế mà ông Ngô Đình Cẩn tỏ vẻ thờ ơ không lấy làm khó chịu về bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang và có nhẽ vẫn tin rằng, mình đã nắm được mấy thầy nên ông Cẩn đã từ chối ngay đề nghị của Hoàng Trọng Bá yêu cầu tung ra trước công luận một vài tài liệu “tổ chức” nọ. Tuy nhiên dù có tung tài liệu đó ra và tài liệu đó có đúng 10/10 đi nữa thì quần chúng đang hăng say cũng sẽ không tin tưởng gì vào tài liệu đó cuối cùng sẽ mang tiếng là dùng sức mạnh của nhà nước để chụp mũ.
Trong khung cảnh và thực tại của Huế lúc ấy chính quyền Thừa Thiên chỉ cần khôn khéo đôi chút thì đã dễ dàng xoa dịu được phản ứng nhất thời của quần chúng Phật tử. Nhưng từ Tỉnh trưởng đến đại biểu Chính phủ đã quá non nớt về chính trị và chỉ là cấp thừa hành về hành chính nên đành khoanh tay, trong khi đó phản ứng của quần chúng không được xoa dịu và càng ngày càng bị khích động do những nguồn dư luận “giật gân”.
Ngày 10-5 ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ được phái ra Huế để điều tra tại chỗ. Theo thông lệ và “truyền thống” của những nhà hành chính thì công việc điều tra đều dựa trên giấy tờ và nghe các cấp bộ hành chính điều trần. Do đó, ông Bùi văn Lương vẫn lạc quan vì tình hình tại Huế không có gì trầm trọng, dân tình vẫn như thường. Ông Lương tiếp xúc với các giới liên quan như ông Nguyễn văn Đẳng, ông Hồ Đắc Thương, Thiếu tá Sỹ, Trung tá Thưởng, chính quyền vẫn giữ nguyên luận cứ là Cộng sản đã gây ra thảm cảnh này. Buổi trưa ngày 10-5, trên đuờng từ tòa Đại biểu qua dinh ông Ngô Đình Cẩn, ông Bộ trưởng Bùi văn Lương gặp đoàn đại biểu tỉnh khoảng vài trăm thanh thiếu niên, hàng ngũ lộn xộn. Đại úy Minh trình bày cho ông Bùi văn Lương về “nội dung” thành phần đoàn biểu tình đó, còn quá thưa thớt và hỗn tạp. Nhưng nếu ở xa chỉ nghe hai chữ biểu tình mà lại do Phật giáo đồ chủ trương thì cuộc biểu tình trở nên sôi nổi trong trí tưởng tượng của mỗi người. Riêng cuộc biểu tình ngày 10-5 giới an ninh báo cáo có ông Phó lãnh sự Mỹ đi theo sau “quan sát”. Tất nhiên là ông đi trên vỉa hè. Sự hiện diện của ông Phó lãnh sự Mỹ quả là một yếu tố khích động rất quan hệ đầy ý nghĩa. Nhưng chính quyền hồi đó vẫn tin tưởng quá nhiều nơi thiện chí của ông bạn đồng minh Mỹ. Phía Phật giáo cũng vậy, khi thấy giới chức cao cấp Mỹ ủng hộ cuộc tranh đấu của mình, không ai nghi ngờ thiện chí của họ.
Cùng ngày phái đoàn của Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng Hòa ra Huế thì chùa Từ Đàm cũng tổ chức mít tinh và đưa ra bản tuyên ngôn gồm năm điểm. Bản tuyên ngôn trở thành căn bản và đối tượng chính yếu của Phật giáo năm 1963.
Với bản tuyên ngôn như vậy và kèm theo lời tường trình báo cáo của ông Bộ trưởng Bùi văn Lương, Tổng Thống Diệm tỏ vẻ tức giận cho rằng phía Phật giáo đòi hỏi quá đáng. Ông Tổng Thống lại coi đây chỉ là một yêu sách của một khuynh hướng Phật giáo tại Sài Gòn, Tổng Thống Diệm lại càng quyết định không thể nhượng bộ, vì từ ngày 10-15/6 giới lãnh đạo Phật giáo Sài Gòn vẫn còn tiêu cực, tuy có phản đối chính quyền qua bức công điện (cấm treo cờ) nhưng lại có vẻ hòa hoãn với chính quyền và đặt chủ trương một giải pháp ôn hòa trung dung. Trong khi đó Tổng Thống Diệm lại chỉ quyết định tìm hiểu và nói chuyện với các vị lãnh đạo này tiêu biểu qua cư sĩ Mai Thọ Truyền, Thượng tọa Thích Thiện Hoa (chùa Ấn Quang) và Thượng tọa Tâm Châu (chùa Từ Quang).
Thực tế để giải quyết vấn đề vẫn là Huế làm chính quyền tại Sài Gòn vẫn tin tưởng là Huế không có gì đáng ngại. Sự thực hoàn toàn khác. Không khí tranh đấu tại Huế bùng nổ vào ngày 8-5 lắng dịu sau đó nhưng đang âm ỉ như những sóng ngầm. Chùa Từ Đàm đã quy tụ được một lực lượng quần chúng đáng kể và rất đáng ngại đó là các thành phần các bạn hàng tiểu thương tại chợ Đông Ba, các anh em công nhân xe đò, xích lô đạp, sau cùng là một thành phần nòng cốt gồm học tăng tại chùa Bảo Quốc nơi Thượng tọa Trí Quang và Thượng tọa Minh Châu đã được đào tạo. Các học tăng trở nên một lực lượng xung yếu. Thêm vào đó là tập thể sinh viên Huế. Mấy ngày đầu, tập thể sinh viên Đại học Huế im lặng và chỉ có sinh viên Phật tử tham dự, hơn nữa tháng năm đang vào hè và sinh viên đang dự thi. Nếu như chính quyền giải quyết ngay mấy ngày đầu thì lực lượng trên khó lòng có thể móc nối liên lạc với nhau được. Qua ngày 12, khi thấy chính quyền không đàn áp và chỉ có canh chừng, Huế bắt đầu vùng dậy và các lực lượng trên tự nó vốn phân tán nay liên kết với nhau và cùng hướng về đối tượng tranh đấu cho năm điểm trong bản tuyên ngôn. Huế bắt đầu chuyển động.
Từ phía Từ Đàm Huế thay đổi thái độ. Thượng tọa Trí Quang gặp thẳng ông Ngô Đình Cẩn để thu xếp, mục đích làm thế nào chính quyền Trung ương thu xếp trực tiếp với giới lãnh đạo Phật giáo tại Huế mà không qua trung gian đại diện Phật giáo tại Sài Gòn.
Đề nghị này cũng hợp lý vì ông Cẩn từ lâu vẫn cho rằng Tổng giáo hội Phật giáo Việt Nam Cộng Hòa phải là miền Trung, chùa Từ Đàm mới là đầu não.
Các thầy chùa Từ Đàm khi được tin mấy Thượng tọa Tâm Châu, Thiện Hoa nhảy vào cuộc thì không khỏi lo ngại tiếng nói Phật giáo miền Trung sẽ không được chính quyền Trung ương tôn trọng. Sau khi đã công bố bản tuyên ngôn năm điểm, chùa Từ Đàm đã nắm được nhiều yếu tố thuận lợi. Dù vậy cho đến ngày 15-5, khi Phật giáo Sài Gòn làm lễ cầu siêu cho các nạn nhân, tại đài phát thanh Huế không hiểu từ một nguyên nhân sâu xa nào, các thầy chùa Từ Đàm bỗng nhiên thay đổi thái độ và trở nên hòa hoãn, muốn nói chuyện với Chính phủ. Ông Ngô Đình Cẩn thỉnh cầu với Trung ương yêu cầu điều đình trực tiếp với Huế qua hai Thượng tọa Trí Quang và Thiện Minh. Nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm từ chối đề nghị đó. Điều này làm ông Cẩn bối rối, khó xử. Cùng ngày 15-5, một phái đoàn Phật giáo đại diện Nam Tông và Bắc Tông vào yết kiến Tổng Thống Diệm và đề đạt nguyện vọng. Kết quả là không đi đến đâu. Sài Gòn bắt đầu rậm rịch bùng lên đấu tranh của Phật giáo.
Ngôi sao Tâm Châu bắt đầu ló rạng. Một phong trào tranh đấu của Phật giáo tại Sài Gòn có đủ yếu tố để lớn mạnh và có đủ điều kiện để làm mạnh với chính quyền.
Trong khi Huế, cái đinh của biến cố lại bắt đầu mờ nhạt, không tạo được cơ hội để tranh thủ chính quyền Trung ương. Dù vậy, Huế vẫn nắm căn bản “pháp lý” qua tổ chức Tổng hội Phật giáo miền Nam Việt Nam mà hội chủ là hòa thượng Thích Tinh Khiết.
Ngày 20, hòa thượng Hội chủ đã đánh điện tín vào Sài Gòn và một số tỉnh để báo tin để tang và lễ cầu siêu cho các nạn nhân vụ nổ ở Đài phát thanh. Đó cũng là cách lên tiếng. Phía chùa Từ Đàm từ cuộc biểu tình ngày 10 đến ngày 21 cũng đã tự hiểu được rằng dù có cán bộ và quần chúng, Huế không thể đơn phương vận động một phong trào chống chính quyền Ngô Đình Diệm. Về phía ông Cẩn qua trục giao liên Hà Thúc Luyện, Lê Trọng Quát, Lê văn Nghiêm được biết rằng các thầy chùa Từ Đàm tuy bên ngoài mạnh miệng tỏ ra cương quyết nhưng đã rất muốn “thương thuyết” để bảo đảm chủ lực Huế. Chính quyền Trung ương thì vẫn cố chấp “chỉ nói chuyện” với đại diện Phật giáo tại Sài Gòn. Do đó Thượng tọa Trí Quang đến gặp ông Cẩn rồi tự tay Thượng tọa viết một lá thư gửi Tổng Thống Diệm nhờ ông Cẩn chuyển giao. Nội dung lá thư thật hòa hoãn, khiêm nhường.
Qua cuộc tiếp xúc giữa Thượng tọa Trí Quang giới Phật giáo Từ Đàm không đòi hỏi chính quyền phải thỏa mãn ngay năm điểm trong bản tuyên bố. Trái lại bên Từ Đàm đã hạ năm điểm xuống còn ba điểm và những điểm này đều có thể thỏa mãn được, như: “Yêu cầu chính quyền bồi thường một cách xứng đáng cho nhũng kẻ chết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải trừng phạt xứng đáng”.
Theo giới thân cận ông Cẩn thì nếu như chính quyền trung ương gặp trực tiếp giới Phật giáo chùa Từ Đàm thì mọi việc thu xếp cũng không có gì khó khăn. Tuy nhiên Phật giáo chùa Từ Đàm vẫn bị khích động qua khuynh hướng “cứ làm tới”. Cũng khuynh hướng này tuy chỉ là một thiểu số nhưng đã đóng góp vai trò chủ động và lấn át những khuynh hưởng ôn hòa. Thượng tọa Minh bắt đầu nao núng.
Sài Gòn chuyển động, dần dần trở thành trung tâm của biến cố. Trước hoàn cảnh này, các thầy chùa Từ Đàm đứng trước bài toán:
1) Phải làm mọi cách để có mặt tại Sài Gòn hoặc trực tiếp với chính quyền hoặc có thể nắm một phần chủ động trong những biến chuyển tại Sài Gòn. 2) Nếu không được như vậy, tạm thời thỏa hiệp và thương nghị với chính quyền qua những đòi hỏi tối thiểu và nhượng bộ nhau. Thực tế sự xuất hiện của Thượng tọa Tâm Châu cũng như cư sĩ Mai Thọ Truyền sẽ làm nghiêng ngả Phật giáo nếu không nhanh tay hành động thì Phật giáo miền Trung sẽ bị lép vế, do đó nguyện vọng và đòi hỏi của Phật giáo miền Trung sẽ trở thành cái cớ thúc đẩy những tập thể đứng lên lãnh “công đầu”. Bởi vậy bằng mọi giá các Thượng tọa Trí Quang, Thiện Minh cũng phải nắm lấy thế chủ động và các vị này vẫn tin rằng ông Ngô Đình Cẩn sẽ bênh vực lập trường của Giáo hội Phật giáo miền Trung. Mà thực vậy, ông Cẩn tìm mọi cách thuyết phục Tổng Thống Ngô Đình Diệm “tiếp kiến” riêng một phái đoàn Phật giáo miền Trung. Nhưng ông Cẩn không đủ tín nhiệm để thuyết phục đồng bào. Biến cố 8-5 tại Huế, Tổng Thống Diệm lại chỉ theo sự tường thuật một chiều và chật hẹp của Đức Cha Ngô Đình Thục. Ngày 7-5 khi tình hình có vẻ căng thẳng, Đại tá Đỗ Cao Trí gặp riêng Đức cha Ngô Đình Thục rồi bay thẳng về Sài Gòn
yết kiến Tổng Thống Diệm để trình bày nội vụ từ ngày đó cho đến khi Hòa thượng Quảng Đức tự thiêu.
Tổng Thống Diệm vẫn được nghe trình bày nội vụ từ một phía, tức phía Đức Cha Ngô Đình Thục và giới chức chính quyền, cho nên ông Tổng Thống lại càng tin mình làm việc chính đáng đế tôn trọng quốc kỳ và thể thống quốc gia.
Một biến cố như vậy dáng lẽ phải cấp thời thu xếp cho êm đẹp vì càng kéo dài càng bất lợi. Và nó đã bất lợi thật: gần nửa tháng không giải quyết được gì. Biến cố đó đã đẻ ra bao nhiêu biến cố dây chuyền khác.
Chính quyền đã hết sức sai lầm khi ra lệnh cấm treo cờ, tuy cái lầm lẫn đó ở bất cứ một chính quyền nào thiếu sự cảnh giác cũng có thể mắc phải. Với một bộ máy công quyền thư lại quen làm việc chiếu lệ, điều đó có thể không đáng trách lắm trong bối cảnh một nước chậm tiến. Song điều đáng trách là khi chính quyền đã lầm lỗi lại không biết kịp thời khôn ngoan sửa chữa lỗi lầm, do đó mới bị tràn ngập bởi các biến cố. Lúc ấy chính quyền “túng thế” cho rằng phải cương quyết bảo về uy quyền nếu cần bằng biện pháp mạnh. Khi biện pháp mạnh được sử dụng (trong hoàn cảnh tràn ngập biến cố) thì chính những biện pháp mạnh đó lại nuôi dưỡng biến cố và chỉ là cách đổ dầu thêm vào lửa.
Nếu như Tổng Thống Diệm nghe lời ông Cẩn và chấp nhận nói chuyện với các Thượng tọa miền Trung thì nội vụ đã không đổ vỡ lớn như vậy. Mặc dù, có sự yêu cầu được tiếp kiến của Thượng tọa Trí Quang, Tổng Thống Diệm lại trả lời không tiếp kiến, không thu xếp với phía Từ Đàm, vì ông Tổng Thống cho rằng một vấn đề địa phương như vậy một ông Đại biểu Chính phủ cũng đủ tư cách để thu xếp.
Qua ngày 20-5, chính quyền địa phương đành thúc thủ đợi lệnh thượng cấp. Chính quyền trung ương vẫn không có một đường lối dứt khoát trong việc giải quyết vì không dựa vào sự phân tích thực tế khách quan mà chỉ dựa vào ý kiến và xúc cảm chủ quan của mình.
Những ngày đầu của biến cố, phía Cộng sản mới chỉ lên tiếng chiếu lệ (tuyên truyền có lợi cho mình) nhưng Cộng sản đã bắt đầu điều khiển và phân tích thực tại khách quan của nội vụ để có thể nếu điều kiện thuận lợi nhất cho phép thì họ nhảy vào vòng. Trong khi đó, mấy ông CIA Mỹ “chìm” cố kết với báo chí Mỹ, Pháp qua các thông tấn và ký giả tại Sài Gòn để đóng vai trò hoạt náo viên có lợi nhất cho “đối phương” hành động.
Tại Sài Gòn ngày 21-5 một cuộc lễ cầu siêu tổ chức tại chùa Ấn Quang với sự tham dự của năm, sáu trăm tăng ni, cuộc rước linh từ rất trọng thể từ Ấn Quang qua Xá Lợi. Đó là dấu hiệu đầu tiên liên kết giữa các vị lãnh đạo Phật giáo ba miền Trung-Nam-Bắc. Trước đó, giới Phật giáo miền Nam vẫn còn e dè thận trọng tối đa. Theo giới thân cận tại chùa Xá Lợi cho biết, cư sĩ Mai Thọ Truyền là chỗ tâm giao với thượng tọa Thiện Hòa (Ấn Quang) mà Thượng tọa Thiện Hòa được coi là vị tu hành không có tham vọng thế tục, bản chất rất hiền hòa phước hậu và ghét chính sự đa đoan.
Cư sĩ họ Mai vốn là bạn thân của Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, ông lại là cựu Tổng thanh tra Hành chính Tài chính Phủ Tổng Thống,ông không muốn dính dáng chính trị với Phật sự. Đã từ lâu cư sĩ họ Mai không “hoan hỉ” cho lắm về mấy thầy tại chùa Từ Đàm. Có lẽ do kết quả từ những bất đồng ngấm ngầm qua một lần tham dự hội nghị Phật giáo quốc tế.
Trước biến cố 8-5, phía Xá Lợi tỏ ra thận trọng. Sau khi tiếp xúc với ông Bộ trưởng Nội vụ Bùi văn Lương (với tư cách riêng và tâm tình) giới đầu não Hội Phật học Nam Việt “cảnh giác” với một số bằng hữu ở chùa Xá Lợi nên họ cho rằng hãy coi chừng, chớ có nhẩy vào vòng không rồi mắc mưu ông Ngô Đình Cẩn. Họ đề cao cảnh giác như vậy vì vẫn hoài nghi và có mặc cảm với một số tổ chức do ông Cẩn đỡ đầu. Biết đâu từ biến cố 8-5 lại không có người của ông Cẩn nhân dịp biến cố này sẽ lợi dụng để tung một mẻ lưới lớn? Kinh nghiệm chính trị cho phép hoài nghi như vậy, vì trong những biến cố chính trị chính quyền biết đâu không cho những người nằm vùng để khuấy động.
Những ngày đầu của biến cố, Phó Tổng Thống Thơ vẫn đứng ngoài lề có lẽ ông muốn tránh tiếng và có lẽ cũng không muốn dây dưa đến một vấn đề có liên hệ đến miền Trung (thuộc phạm vi ông Ngô Đình Cẩn).
Ngoài ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ có phận sự thu xếp Tổng Thống Diệm còn ủy thác cho bác sĩ Võ Vinh Hoa tìm cách dàn xếp riêng với trục thượng tọa Thiện Hòa và cư sĩ Mai Thọ Truyền, bác sĩ Hoa cũng là một y sĩ riêng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm (sau bác sĩ Bùi Kiện Tín) bác sĩ Hoa có nhiều liên hệ tình cảm với Thượng tọa Thiện Hòa cũng như cư sĩ Mai Thọ Truyền. Gia đình ông lại quen biết với Thýợng tọa Trí Quang (qua gia đình ông Võ văn Hoàng – Phòng Thương mại Sài Gòn). Bác sĩ Hoa sau những lần thăm dò đã trình rõ là cư sĩ Mai thọ Truyền vẫn giữ lập trường ôn hòa. Sở dĩ phải có thái độ với chính quyền vì không thể không chứng tỏ trong đoàn kết tương thân với Phật giáo miền Trung. Hơn nữa, cư sĩ Mai Thọ Truyền cũng là một thành phần lãnh đạo của Tổng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Cộng Hòa.
Về phía ông Ngô Đình Nhu thì như thế nào? Ông Nhu chỉ thực sự dấn mình vào biến cố sau khi Hòa thượng Quảng Đức tự thiêu (11-6-1963)và từ đó ông càng trở nên quyết liệt chơi ván bài “được ăn cả ngã về không”. Trước đó gần như ông không tỏ một thái độ nào rõ rệt. Sau vụ Huế hai ngày, hôm ấy hình như là thứ sáu, ông Nhu lên Đà Lạt. Lương Khải Minh có điện thoại cho ông Cao Xuân Vỹ nhờ ông Vỹ trình bày nội vụ cho ông Nhu hay “Toa tìm cách nói thêm nào cho ông Cố vấn rõ chuyện và nên tìm cách thu xếp cho êm đẹp không sẽ là một vấn đề nguy hiểm”.
Trên đường từ dinh ra phi trường trên xe chỉ có ông Nhu và Cao văn Vỹ. Dịp này ông Vỹ đã tường trình cho ông Nhu rõ đầu đuôi sự cố. Ông Nhu tỏ vẻ buồn bực và nói: “Quyết định một việc vô chính trị như vậy mà không hỏi ý kiến ai (ý nói Tổng Thống Diệm đơn phương quyết định một mình)”. Nhưng thật lạ lùng, thứ hai tuần sau khi trở lại Sài Gòn ông Nhu bỗng dưng thay đổi thái độ và trở nên cương quyết. Quả là khó hiểu. Có nhẽ ông bị bà vợ chi phối quá nhiều. Khi ở Sài Gòn một mình, thái dộ của ông ôn hòa và bực tức với biến cố mà ông cho rằng “thất chính trị”. Sau khi lên Đà Lạt với bà vợ ba ngày bỗng dưng thái độ của ông thay đổi từ cực này đến cực kia.
Ngày 25-5 Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo đưa ra bản tuyên ngôn đặt trên hai căn bản chính yếu:
1. Ủng hộ năm nguyện vọng của Phật giáo qua bản tuyên ngôn 10-5-1963 (xuất phát từ chùa Từ Đàm).
2. Thề nguyền đoàn kết trong cuộc tranh thủ hợp pháp và bất bạo động để tranh thủ cho đến khi đạt được 5 nguyện vọng ấy.
Một loạt lễ cầu siêu được tổ chức theo giây chuyền từ chùa Xá Lợi đến Giác Minh và các chùa khác trong đô thành.
Trụ sở của Ủy ban Liên phái đặt tại chùa Xá Lợi vì đây là một chùa lớn đồng thời cũng là trụ sở của chi hội Tổng hội Phật giáo miền Nam vì chùa Ấn Quang lúc ấy còn quá nhỏ. Chùa Từ Quang (nơi Thượng tọa Tâm Châu trụ trì) lại ở trong con hẻm (đường Phan Thanh Giản). Thượng tọa Tâm Châu trở thành Chủ tịch của Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo vì Thượng tọa được coi là một trung dung giữa “trục” Phật giáo miền Trung và các “phái” Phật giáo khác trong Nam. Sự xuất hiện của Thượng tọa Tâm Châu được coi là nhân vật thuận lợi cho nhịp cầu thông cảm giữa các tôn giáo phái lúc bấy giờ. Vả lại, trước năm 1963 và trong chín năm chế độ Ngô Đình Diệm Thượng tọa Tâm Châu được coi là vị tu hành theo đúng tôn chỉ của Đức Thế Tôn. Thượng tọa trụ trì trong một ngôi chùa nhỏ, hàng ngày dịch kinh sách và tu đạo Thượng tọa Tâm Châu không có liên hệ với chế độ Ngô Đình Diệm, nhưng Thượng tọa cũng không phải là người chống lại chế độ đó. Trong chín năm, chính quyền Ngô Đình Diệm không có hoài nghi về Thượng tọa Tâm Châu. Trong kỳ bầu cử Tổng Thống, ông Diệm có theo bác sĩ Tuyến đến thăm Thượng tọa Tâm Châu. Dịp này bác sĩ Tuyến ngỏ ý thỉnh cầu Thượng tọa chỉ ủng hộ liên danh Ngô Đình Diệm – Nguyễn Ngọc Thơ. Thượng tọa hoan hỉ nhận lời. Thích Tâm Châu trở thành Chủ tịch ủy ban Liên phái Phật giáo, đạt được một lợi điểm đối với chính quyền, vì Thượng tọa cũng từng đứng trong phong trào liên tôn chống Cộng sản (năm 1945-1946). Thượng tọa lại là chỗ quen biết của Đức cha Lê Hữu Từ cũng như Linh mục Hoàng Quỳnh.
Tuy vậy sự xuất hiện của hai thầy Tâm Châu và Đức Nghiệp đã làm cho một số người tại Huế không vừa ý, vì vậy hiển nhiên là tiếng nói của Phật giáo miền Trung không được tôn trọng theo đúng tư thế (vì Huế mới là khởi điểm của biến cố). Nhận biết được cái lợi cho chính quyền nếu tìm cách đưa được các thầy Từ Đàm vào Sài Gòn và đích thân tham dự Ủy ban Liên phái hòng có thể cân bằng “cán cân ảnh hưởng và thế lực”, Lương Khải Minh tìm cách thuyết phục Tổng Thống Diệm chấp thuận đưa các thầy Huế vào Sài Gòn để tham dự cuộc nói chuyện trực tiếp với chính quyền. Ai cũng có thể làm được việc giao liên móc nối này? Lương Khải Minh đề nghị bác sĩ Trương Khuê Quan (Giám đốc Xã hội thuộc Bộ Quốc phòng) đảm nhận công việc.
Ngày 30-5 các cấp lãnh đạo sáu tập đoàn Phật giáo thi hành chỉ thị của Hòa thượng Hội chủ Tổng hội Phật giáo miền Nam Việt Nam tuyệt thực 48 giờ kể từ lúc 4 giờ cùng ngày. Tổng đoàn sinh viên Phật tử từ Huế gởi tâm thư cho các Sinh viên toàn quốc hô hào ủng hộ cuộc tranh đấu cho tự do tín ngưỡng, đồng thời gửi một bản kiến nghị lên Tổng Thống Ngô Đình Diệm sau một phiên họp khoáng đại tại chùa Từ Đàm sáng ngày 31-5. Điều 4 trong bản kiến nghị có ghi: “Yêu cầu chính quyền ra lệnh triệt để đình chỉ những mánh lới trẻ con, thiếu trí thức của cán bộ đối với tín đồ Phật giáo trong cuộc tranh đấu. Vì chính những mánh lới đó không lừa bịp được ai mà chỉ làm mất uy tín của cán bộ và Chính phủ”. (Bản kiến nghị, có chữ ký của Đại diện 6 phân khoa và các trường như Cộng Đồng Mỹ thuật, Cán sự Y tế, Nữ hộ sinh quốc gia – Quốc gia âm Nhạc). Bản kiến nghị trên đây là dấu hiệu đầu tiên cho biết tập thể sinh viên và học sinh bắt đầu nhập cuộc. Đây cũng là lời phản kháng thứ nhất của giới sinh viên trong suốt 9 năm chế độ Ngô Đình Diệm và cũng là lời lẽ xúc phạm nặng nề nhất vì trong chín năm cầm quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm chưa hề nhận được một kiến nghị nào công khai bày tỏ sự phản kháng như vậy.
Trên thực tế, bất cứ một phong trào phản kháng nào của tập thể sinh viên dù lởn mạnh và rộng lớn đến đâu cũng không thể xoay chuyển được thế cuộc, không thể lật đổ được chế độ nếu như phong trào đó không gắn liền với một thái độ chống đối định hình khác. Nhưng đây lại khác, tập thể sinh viên, học sinh đã dễ dàng bị lôi kéo và phát động mạnh mẽ trong cuộc tranh thủ của Phật giáo và Phật giáo miền Trung lại có sẵn một khối vận động trong tập thể sinh viên Huế. Khối ấy tuy nhỏ bé (là tổng đoàn sinh viên Phật tử)nhưng lại có đủ yếu tố khích động và gợi cảm hứng tranh đấu cho tất cả tập thể. Sinh viên Huế nhận thức được tầm quan trọng của tập thể sinh viên nếu tập thể này nhập cuộc cho nên một vài nhân vật cận thân của Tổng Thống Ngô Đình Diệm tìm mọi cách để thuyết phục Tổng Thống giải quyết nhanh chóng.
Tập thể sinh viên trước năm 1963 tương đối thuần túy. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thành công trong việc “ổn định” Đại học. Qua Tổng hội sinh viên Sài Gòn, tuy không phải là một thực lực nhưng chính quyền lúc ấy bằng cách này hay cách khác có thể nói đã “nắm” được Tổng hội. Tập thể sinh viên Huế không được tổ chức như Tổng hội sinh viên Sài Gòn nhưng lại quy tụ quanh uy tín của Linh mục Cao văn Luận.
Sinh viên Huế trước 1963 được coi là chăm học, kỷ luật và hoạt động thuần tuý học đường. Bỗng dưng sinh viên hứng lên phản kháng, nhập cuộc. Lý do dể hiểu là họ bị xúc động qua biến cố 8-5, lại bị mặc cảm thụ động vì bấy lâu nay đã ỷ lại chính quyền, đồng thời người dẫn đạo sinh viên như Linh mục Cao văn Luận thì nay Linh mục Luận “buông xuôi” không có ý kiến gì trong việc sinh viên phản kháng (dù là sinh viên Phật tử, mà Đại học Huế theo thành phần tôn giáo đa số là Phật giáo). Lý do sự buông xuôi của Linh mục Cao văn Luận cũng dễ hiểu vì Linh mục luận tuy là chỗ thân tình sâu xa với ông Ngô Đình Cẩn và Tổng Thống Diệm, nhưng Linh mục lại có nhiều mâu thuẫn “cá tính” với Đức Cha Thục (nhất là từ khi Đức cha Ngô Đình Thục trở về Huế trọng nhậm giáo hội tỉnh Thừa Thiên Huế). Lý do khác nữa là vì những mâu thuẫn giữa Công giáo và chính quyền. Đồng thời cũng vì “liên đới thiện cảm” với Phật giáo cho nên Linh mục viện trưởng Đại học Huế thế tất không thể chống lại những hành động phản kháng chính quyền và ủng hộ Tổng hội Phật giáo Nam Việt Nam của tập thể sinh viên. Cho nên sinh viên được “buông thả” dễ nhảy vào vòng.
Khi tập thể sinh viên nhảy vào vòng chiến, chính quyền nào cũng không thể không quan tâm đặc biệt. Vấn đề căn bản lúc ấy là phải giải quyết vụ Phật giáo thì mới có thể làm xẹp được “phong trào” (lúc ấy hãy còn giới hạn) phản kháng của sinh viên.
Trong khi các khối quần chúng kể cả quần chúng Phật tử đang trong tình trạng thụ động, do dự hoặc tê liệt, giới lãnh đạo Phật giáo khó lòng có thể tạo được một cuộc vận động lớn dù cho một đối tượng thiêng liêng tôn giáo. Vậy thì chỉ còn sinh viên là một khối “quần chúng” chọn lọc, tuy vô định hình trên lý thuyết nhưng trên thực tế sinh viên trở thành một khối có khả năng vận động nhờ môi trường sinh hoạt, nếp sống hàng ngày tương đối thuần nhất lại hiếu động, dễ tin, đầy nhiệt huyết.
Ngay từ đầu biến cố, chính quyền Ngô Đình Diệm đã có lợi điểm là tập thể sinh viên không tham dự, họ gần như bàng quan. Ở Huế từ ngày 8 đến 30-5, sinh viên Phật tử chỉ tham dự lẻ tẻ với tư cách Phật tử.
Khởi đầu từ tháng 6, vì không giải quyết mau chóng và quá kéo dài biến cố cho nên chính quyền mất lợi điểm trên khi tập thể sinh viên đứng vào hàng ngũ tranh đấu của Phật giáo, đồng thời phía những người Cộng sản thì muốn thâm nhập tranh thủ trong cuộc tranh đấu này một cách hợp pháp và thuận lý cho nên họ đã lanh tay bố trí kế hoạch và khởi điểm của kế hoạch ấy là đi vào cửa ngõ bao giờ cũng bỏ ngỏ theo đúng tinh thần đại học.
Tiên liệu những khó khăn ấy và cái sức mạnh phức tạp vạn nan của khối sinh viên học sinh cùng với khối quần chúng “định hình” Phật tử (một khi hai khối này liên kết) cho nên khởi đầu từ 22 tháng 5, một vài nhân vật thân cận của Tổng Thống Diệm tìm cách “ổn định”. Mà ổn định trong một biến cố tế nhị và phức tạp như vậy thì phương thức chính trị phải được đặt thành trọng tâm hoạt động.
Ổn định trong trường hợp này không có nghĩa là tìm cách đối phó và chiếu lệ. Ông Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần “hoàn toàn” đồng ý với ý kiến và lập trường trên. Ông Thuần trình bày lại với Tỏng thống Diệm, ông Tổng Thống không do dự gì cả và chấp thuận ngay nguyên tắc thương nghị và hòa hoãn với Ủy ban Liên phái.
Vào một buổi sáng đầu tháng 6 khoảng 8 giờ 30 bác sĩ Tuyến được Tổng Thống gọi điện thoại bảo vào dinh có việc gấp. Linh tính cho ông biết là đề nghị hòa giải chắc chắn đã được Tổng Thống chấp thuận.
- Bây giờ anh tính sao?
Lời hỏi đầu tiên của Tổng Thống Diệm. Bác sĩ Tuyến suy nghĩ ít phút rồi trình bày :
- Thưa Cụ bên phía Phật giáo cũng muốn hòa giải. Chuyện này cũng không có gì… kéo dài mãi sẽ bất lợi. Cộng sản nó sẽ len lỏi vô.
Tổng Thống Diệm trầm ngâm. Vẻ mặt ông có vẻ lao lung lắm. Trong căn phòng quen thuộc ấy chỉ có ông Ngô Đình Thuần, bác sĩ Tuyến. Bẵng đi một dạo đã năm bảy tháng trời bác sĩ Tuyến mới vào dinh gặp Tổng Thống cùng mục đích như ông Thuần. Tổng Thống Diệm quay sang hỏi bác sĩ Tuyến :
- Ý anh thế nào?
Bác sĩ Tuyến trình bày thẳng vấn đề và những lợi hại của nó. Tổng Thống yên lặng chừng năm bảy phút. Sau đó, bác sĩ Tuyến đưa ra đề nghị :
- Chính phủ nên chính thức cử người đại diện để nói chuyện trực tiếp với họ.
Tổng Thống Diệm hỏi:
- Ai có thể đại diện cho Chính phủ? Ông Thuần làm đi?
Ông Ngô Đình Thuần từ hồi nãy giờ vẫn ngồi yên im lặng.
- Để gìữ thể thống cho bên Phật giáo và cũng là cách tạo thông cảm dễ dàng cho việc thu xếp xin đề cử một người nào đó bề thế đại diện cho Tổng Thống
Tổng Thống Diệm băn khoăn :
- Ai đại diện được bây giờ?
Ông Nguyễn Đình Thuần:
- Tôi thấy chỉ có Phó Tổng Thống Thơ là có thể đủ uy tín để đại diện cụ.
Tổng Thống Diệm đồng ý ngay :
- Ừ, ông Phó được đấy. Ông (tức ông Thuần) cũng phụ vào.
Bác sĩ Tuyến trình bày qua một vài phương thức thành lập một Ủy ban hòa giải. Tổng Thống Diệm lại hỏi:
- Ai nữa chứ, chỉ có một ông Phó thôi à?
Đến đây thì bác sĩ Tuyến cũng như ông Thuần đều không dám đưa ra ý kiến đề cử ai. Tổng Thống Diệm cũng như hai ông đều yên lặng lo âu đến 10 phút. Ông Tổng Thống cũng không tự ý cắt cử ai.
Tổng Thống Diệm bấm chuông gọi ông Ngô Đình Nhu qua để tham khảo ý kiến rồi cùng quyết định.
Vẫn một vẻ “lừng khừng” muôn thuở. Ông Nhu vào phòng Tổng Thống hút thuốc lá, vẫn yên lặng. Tổng Thống Diệm hỏi :
- Chú nghĩ sao về việc này?
Ông Nhu thủng thẳng đáp :
- Như thế cũng đuợc?
Tổng Thống Diệm lại hỏi :
- Có ông Phó còn phải kiếm thêm ai nữa chớ?
Ông Nhu vẫn yên lặng, mãi một lúc lâu ông mới đáp :
- Việc này thuộc Bộ Nội Vụ thì đặt ông nội vụ vô.
Tổng Thống Diệm đồng ý ngay. Thế là thành phần đại diện Chính phủ đã có ba người. Ông Phó Tổng Thống Thơ, ông Nguyễn Đình Thuần và ông Bùi văn Lương. Trong lúc đang bàn tính thì ông Nguyễn Đình Thuần được báo tin là Phó đại sứ Mỹ xin gặp rất gấp. Đó là ông Phó đại sứ Truhert. Vì Đại sứ Nolting đi vắng nên ông Phó thay mặt chuyển giao đến Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa một bức công điện của Chính phủ Hoa Kỳ. Bức công điện đó cho biết dư luận bên Mỹ rất bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa và gây khó khăn cho Chính phủ Mỹ qua vụ Phật giáo cho nên Chính phủ Mỹ hối thúc Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa phải sớm giải quyết cho xong cơn khủng hoảng này.
Ông Thuần trở vào phòng, trình Tổng Thống bức công điện kể trên. Đọc xong vẻ mặt ông Tổng Thống trở nên đăm chiêu. Mọi người lại trở về vấn đề cũ để quyết định thành lập một Ủy ban đại diện Chính phủ nói chuyện với Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo.
Ông Thuần với tư cách Bộ trưởng Phủ Tổng Thống lo trách nhiệm thảo các văn kiện chính thức liên quan đến việc thành lập ủy ban Liên bộ này.
Về phía chính quyền như vậy đã xong. Bây giờ là đến tìm cách nào để đưa mấy thầy từ Huế vào để nói chuyện với chính quyền trong Ủy ban Liên phái. Bác sĩ Tuyến đã trình bày những lợi điểm của việc này như sau: 1) Đưa mấy thầy chùa Từ Đàm vào đây để thương nghị với Chính phủ trên một cấp bậc cao nhất (qua Phó Thơ) tức là xoa dịu tự ái địa phương của mấy thầy. 2) Huế mới là trung tâm của biến cố, nếu chữa được tận gốc thì mọi sự sẽ êm. 3) Mấy Thượng tọa như Thích Trí Quang, Thiện Minh được coi là thành phần nòng cốt của Tổng hội Phật giáo miền Trung. Khi đưa mấy Thượng tọa đó vào Sài Gòn tức là đã biệt lập được mấy Thượng tọa chủ chốt đó với quần chúng Phật tử.
Nhưng ai đi tiếp xúc cho tiện. Nhân vật này thật quan trọng vì phải hội đủ nhiều điều kiện mới có thể thành công trong sứ mạng. Tổng Thống và ông Nhu dể tùy bác sĩ Tuyến và ông Thuần lựa chọn, bác sĩ Trần Kim Tuyến đề nghị bác sĩ Trương Khuê Quan và ông trình bày với Tổng Thống và ông Nhu: “Ông Quan quen biết nhiều phía ngoài đó. Ông lại thuộc Bộ Quốc phòng nên mọi sự đi lại, di chuyển dễ dàng hơn mà lại không ai để ý”.
Đề nghị này được chấp thuận và sau đó ông Nguyễn Đình Thuần ký lệnh để bác sĩ Trương Khuê Quan ra Huế tiếp xúc với chùa Từ Đàm. Tổng Thống Diệm thỏa mãn với quyết định này lắm. Theo Lương Khải Minh, nếu không có những ngộ nhận và những cái vụn vặt tạo ra ngộ nhận và một vài “tai nạn” đáng tiếc thì Ủy ban Liên bộ đã thành công và vụ Phật giáo không đến nỗi nổ to như vậy. Nhưng lịch sử chuyển vần lại không có chữ “nếu”, nếu như thế này, nếu như thế kia, những chữ nếu đó đều ở bên lề biến cố lịch sử. Nếu lịch sử là một sự tái diễn không ngừng thì người đời sau có thể suy ngẫm rất nhiều và có ích rất nhiều khi đặt mình vào lịch sử đã qua để tự vấn “nếu như thế… nếu như thế ta sẽ phải làm như thế nào”.
Bước qua năm 1963, thế lực Mỹ mỗi ngày một lớn thì đồng thời uy thế của các tướng tá Việt Nam Cộng Hòa lúc ấy cũng bắt đầu lớn dần, tham vọng cũng không nhỏ và bắt đầu hướng qua một chân trời mới lạ khác, tức chính trị. Khi một số tướng tá đã có tham vọng chính trị thì tình trạng càng rối loạn, càng kéo dài bao nhiêu càng là một cơ hội tốt nhất để họ nhảy vào vòng. Lịch sử năm 1963 đã chứng minh như vậy và lịch sử còn tái diễn nhiều lần như vậy nữa khi mà xứ sở này còn bị mê hoặc bởi thứ dân chủ loè loẹt son phấn.
Lúc bấy giờ, phía tòa Đại sứ Mỹ, Đại sứ Nolting hoàn toàn ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm. Ông giữ vững lập trường là không thể lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm trong hoàn cảnh sôi động lúc bấy giờ. Phái đoàn Anh Quốc của Robert Thompson (một nhà chiến lược về chiến tranh du kích) cũng giữ một lập trường ủng hộ tích cực chế độ Ngô Đình Diệm. Robert Thompson tin tưởng vào sự thành công của ấp chiến lược và ấp chiến đấu (nhất là ở vùng 2 và ở vùng 1). Đại tá Richarson, Trưởng phòng CIA cũng như Đại tướng Harkins (Tư lệnh MACV) đều là những người cùng lập trường như Đại sứ Nolting. Tuy nhiên một số viên chức khác bị chi phối bởi lập trường và thái độ của Harriman, Mac Namara, Hilsman đã không ngừng chống chế độ Ngô Đình Diệm và họ đã tìm cách móc nối với tướng lãnh, mua một số nhân vật Mỹ hoạt động chìm. Thí dụ như trục liên lạc Lu Coner và Trần văn Đôn. Ông Lu Coner vẫn thường bình phẩm chế độ Ngô Đình Diệm là độc tài, gia đình trị. Ông ta thúc đẩy thực hiện một chủ trương dân chủ hóa Việt Nam Cộng Hòa – Việt Nam Cộng Hòa phải có một thể chế dân chủ như nền dân chủ Hoa Kỳ.
Dạo ấy, các chính khách đối lập thật khó lòng liên lạc được với Mỹ vì không thể lọt qua được cặp mắt của giới an ninh chìm nổi. Riêng các tướng tá được tự do gặp gỡ giới chức Mỹ mà ít ai lưu tâm, với lý do họ là những cố vấn về quân sự và an ninh.
Biến cố Phật giáo kéo dài trong một hoàn cảnh bất lợi cho chế độ Ngô Đình Diệm như vậy, cho nên, khi Tổng Thống Diệm quyết định dàn xếp ngay thì mọi người đều tin tưởng là mọi chuyện sẽ êm đẹp. Nhưng bất trắc phi lý của lịch sử thì không một ai có thể ngờ tới.
Việc lựa chọn bác sĩ Trương Khuê Quan ra Huế tiếp xúc như vậy sẽ dễ dàng đạt được sự cảm thông tín nhiệm. Trong một biến cố thì phe tranh đấu ở đâu và ở thời nào cũng vậy không mấy khi tin tưởng nơi thiện chí của chính quyền.
Cho nên trước khi công khai dàn xếp thì phải có sự vận động dàn xếp ngầm. Người tiếp xúc vận động không thể là một ông Tổng Bộ trưởng và tuyệt đối không để cho mấy giới chức an ninh cảnh sát dính vào. Người đi tiếp xúc phải hội đủ ba yếu tố: 1) Người của chính quyền (ở một địa vị lu mờ). 2) Phải có sự thâm tình tri giao với phe đối lập. 3) Phải có đức tính của người mai mối, nghĩa là khéo léo, linh động. Cuộc tiếp xúc diễn ra càng âm thầm bí mật càng dễ dàng có kết quả tốt. Bác sĩ Quan đã hội đủ được mấy yếu tố đó.
Về phía Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông tín tưởng mọi việc sẽ êm xuôi và trao trách nhiệm giải quyết cho bộ ba Thơ, Thuần, Lương đều là “cỡ nặng” của chính quyền.
Ông Ngô Đình Nhu không có một thái độ rõ rệt.
Nhưng bà Nhu bắt đầu hung hăng và tìm mọi cách nhẩy vào vòng. Qua những biến cố lớn như vụ Tướng Minh năm 1954, cuộc đảo chính 11-11-1960 bà Nhu tỏ ra một người có tài ứng biến mau lẹ và có nhiều sáng kiến tổ chức. Nhưng qua hai biến cố trước, bà Nhu vẫn trong bóng tối, nay thì bà tự cho là mình đã có lực lượng lớn, tức là Phong trào Phụ nữ Liên đới. Trên thực tế phong trào này hữu danh vô thực, nhưng với bà Nhu với lòng kiêu hãnh và thái độ nghênh ngang của bà thì Phụ nữ Liên đới là một đoàn thể mà chính quyền phải kiêng nể. Đoàn thể ấy phải có tiếng nói tham dự vào diễn tiến của lịch sử.
Trong một buổi họp vào trung tuần tháng 7-1963 (vào cuối tháng năm âm) Phong trào Liên đới với đầy đủ thành viên Ban Chấp hành Trung ương bà Nhu với lời nói “chanh chua” gay gắt cho rằng, nếu chính quyền nhượng bộ thỏa mãn yêu sách của Phật giáo thì phong trào của bà cũng sẽ làm áp lực, đưa ra một số yêu sách buộc chính quyền phải thỏa mãn và nhượng bộ. Trong phiên họp đó, bà Nhu chỉ trích gay gắt mấy nhà sư với những ngôn ngữ không được mềm mỏng.
Cuộc hòa giải âm thầm
Cuộc tranh đấu của Phật giáo đã biến chuyển mau lẹ. Đầu tháng 6, riêng tại Huế và miền Trung phong trào tranh đấu đã lan rộng đến các tỉnh, quận, xã. Thành phần sinh viên, học sinh cũng bắt đầu nhảy vào cuộc, chính quyền Sài Gòn cũng vẫn lạc quan, tin là có thể giải quyết êm đẹp.
Nhưng cái đinh của biến cố vẫn là Huế và chùa Từ Đàm trở thành Tổng hành dinh của cuộc tranh đấu.
Điều rõ rệt là các thượng tọa miền Trung muốn nói chuyện trực tiếp với chính quyền. Khi thấy chính quyền kể từ 8-5 đến 30-6 chỉ tìm cách điều đình với các nhà lãnh đạo Phật giáo tại miền Nam thì các Thượng tọa chùa Từ Đàm bắt đầu lo lắng.
Đầu tháng 6, Thượng tọa Thiện Minh vào Sài Gòn tìm một con đường riêng để trực tiếp nói chuyện với chính quyền. Nhưng về phía ông Ngô Đình Nhu thì cho rằng: Không thể nào điều đình với mấy ông Thượng tọa như Thượng tọa Thiện Minh và Trí Quang được. Trước đây, ông Nhu không quan tâm đến các Thượng tọa vì mọi việc đã có “chú Cẩn” lo liệu. Từ lúc biến cố bùng nổ, ông Nhu bắt đầu mới tìm hiểu nhân sự về Phật giáo. Ông Nhu có định kiến rằng mấy Thượng tọa có hồ sơ khả nghi và có nhiều liên hệ với giáo sư Lê Đình Thám. Qua báo cáo ông Nhu lại có định kiến thêm rằng: Những phương thức tranh đấu từ ngày 8-5 đến đầu tháng 6 đều là những phương thức của một chiến lược trường kỳ tranh đấu với xuất xứ rất khả nghi.
Tại Huế ngày 30-5 chùa Từ Đàm bị cô lập ít ngày sau điện nước cũng bị cúp luôn. Một số đông thanh niên Phật tử rút vào chùa rồi võ trang bằng gậy gộc, đá… để lo việc bố phòng. Số lương thực trong chùa lúc đó chỉ có thể kéo dài được hai tháng. Ngày 4-6 lại có biểu tình xô xát tại Huế, lực lượng an ninh phải dùng lựu đạn cay giải tán, một số chỉ bị thương nhẹ, nhưng vài ngày sau báo chí Mỹ lại làm um lên. Tại Sài Gòn dư luận lại được dịp lan truyền mau chóng và rất khích động như tăng ni bị bắn, bị thương và bị cầm tù bằng những hình thức dã man của nhà cầm quyền địa phương.
Quả thực lúc đó chính quyền Thừa Thiên quá yếu. Trước kia nhận lệnh trực tiếp từ nơi ông Cẩn thì nay phải đợi lệnh từ Trung ương. Ông Nguyễn văn Hà người thay thế Nguyễn văn Đẳng lại ôn hòa và có rất nhiều tình cảm với các Thượng tọa bên chùa Từ Đàm cho nên ông không thể mạnh tay đàn áp, dù cuộc biểu tình ngày 4-6 cũng không đông đảo bao nhiêu.
Dư luận báo chí ngoại quốc như thế nào, tờ Công luận tại Đài Bắc liên tiếp đăng tải những bài bình luận lên án chính quyền Ngô Đình Diệm và cho rằng chính quyền này kỳ thị tôn giáo, đã đặt Thiên chúa giáo lên hàng đầu và vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc. “Trước khi băng hà Đức giáo hoàng Jean XXIII đã lên tiếng. Nhân loại không thể có quyền kỳ thị: Nhưng đối với tín ngưỡng của anh em Tổng Thống Diệm thì lời nói của Đức Giáo hoàng trở thành vô nghĩa” (Công luận 1-6-1963). Những tờ báo có uy tín như Express News, China Post, China News đều đăng những hình ảnh bình luận tin tức hoàn toàn bất lợi cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Báo chí Thái Lan tỏ ra dè dặt hơn nhưng báo Thái ngữ (ngày 23-5-1963) đã lên tiếng nghiêm chỉnh cảnh báo “Biến cố Phật giáo nếu không sớm giải quyết sẽ bất lợi lớn cho chính quyền, vì chắc chắn Cộng sản sẽ nhảy vào lợi dụng sự bất mãn của Công giáo để làm to chuyện”. Tại Miên, Sihanouk lợi dụng ngay vụ Phật giáo để gây rắc rối. Báo chí Miên từ thiên tả đến thiên hữu đều lên tiếng công kích chính quyền Ngô Đình Diệm. Từ tờ thiên tả La Depêche du Cambodge đến Campuchia và tờ Neak Cheat Niyum (của chính quyền) đều nhất loạt công kích chính quyền Ngô Đình Diệm.
Từ đầu tháng 6 tại Nông Pênh liên tiếp tổ chức những cuộc mít tinh tại ngôi chùa lớn Onnlum để lên án chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo.
Báo chí Mỹ lại càng công kích mãnh liệt hơn nữa như tờ NewYork Times, Washington Post, NewYork Herald Tribunne, đã đứng hẳn về phía Phật giáo. Tờ NewYork Times 31-5 thì cho rằng cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam đã chứng tỏ dân chúng đã bất mãn sâu xa với chế độ. Ảnh hưởng và uy tín của Hoa kỳ sẽ bị tổn thương và Mỹ không thể đứng ngoài vòng cuộc tranh chấp (có nghĩa là Mỹ phải nhúng tay vào).
Tầm nhìn của báo chí Mỹ cũng không khác bao nhiêu lập luận của các hãng thông tấn UPI, AP, CBS News có nghĩa là hoàn toàn chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm và như tờ US News và World Report lại cả quyết rằng: “Các nhà lãnh đạo Phật giáo chỉ yêu cầu Tổng Thống Ngô Đình Diệm chấm dút sự kỳ thị tôn giáo nhưng ngược lạiTổng Thống Ngô Đình Diệm đã đàn áp mạnh các nhà lãnh đạo Phật giáo. Do đó chính quyền của ông đã tách rời Thiên chúa giáo ra khỏi tập thể đại đa số Phật giáo đồ tại miền Nam (24-6-196)”. Tờ báo trên còn lên tiếng: “Qua cuộc tranh chấp giữa chính quyền và Phật giáo, Cộng sản sẽ tuyên truyền với dân chúng rằng Diệm tiêu diệt Phật giáo để mở đường cho Đế quốc Mỹ xâm lăng miền Nam Việt Nam”.
Báo chí Mỹ thì như vậy. Giới chức Mỹ tại tòa Đại sứ luôn luôn áp lực với Ngô Đình Diệm phải điều đình với Phật giáo, phải mở rộng nội các, phải ban hành dân chủ rộng rãi. Vấn đề quan trọng hơn nữa là phải đẩy vợ chồng Nhu ra khỏi nước.
Khi được biết Tổng Thống Diệm tìm cách điều đình trực tiếp với mấy Thượng tọa miền Trung thì ông Nhu không đồng ý. Ông cho rằng không thể nhượng bộ được và mấy vị thượng tọa này không “thuần túy tu hành”.
Tuy vậy Tổng Thống Diệm vẫn quyết định theo ý riêng của ông.
Ngày 5-6, bác sĩ Trương Khuê Quan được gọi vào dinh để gặp Tổng Thống Giới thân cận cho biết không khí hôm đó thật nặng nề khó thở.
Trong căn phòng Tổng Thống, ông Nhu ngồi riêng trên một ghế bành, nét mặt đăm chiêu khó chịu. Ông mặc chiếc áo sơ mi Hong kong ngắn tay im lặng không nói một lời. Bộ trưởng Bùi văn Lương đứng bên Tổng Thống Diệm, bác sĩ Trương Khuê Quan bước vào chào theo lối nhà binh (ông là một bác sĩ Trung tá). Tổng Thống Diệm gật đầu rồi chỉ, cho ông ngồi đối diện với Tổng Thống rồi hỏi ngay :
- Tôi nghe Trung tá quen biết với mấy thầy ở chùa Từ Đàm phải không?
Bác sĩ Quan đáp :
- Dạ thưa có, gia đình tôi quen biết các thầy từ lâu.
Tổng Thống Diệm nói tiếp :
- Trong lúc khó khăn như thế này tôi muốn nhờ Trung tá giúp cho qua cơn khó khăn với các thầy ngoài đó. Ở ngoài đó mấy thầy ấy cứ tuyệt thực rồi biểu tình này khác. Được biết Trung tá có quen biết, tôi nhờ Trung tá liên lạc với mấy thầy không biết Trung tá có khả năng dàn xếp cho êm được không?
Bác sĩ Quan chưa kịp trả lời thì Tổng Thống Diệm nói tiếp :
- Nhờ Trung tá giúp và giải thích xem họ muốn gì?
Bác sĩ Trương Khuê Quan trả lời :
- Thưa Tổng Thống, tôi có quen biết với mấy thầy, có làm việc chung với mấy thầy từ năm 1946 cho đến khi nhập ngũ (1956) chuyên lo Phật sự và Hoằng pháp.
Từ khi nhập ngũ đến nay tôi không có dịp để hoạt động với mấy thầy ấy nữa. Việc giải thích và dàn xếp không biết mấy thầy ấy có nghe không, nhưng Tổng Thống đã ra lệnh thì tôi sẵn sàng thi hành.
Bác sĩ Trương Khuê Quan ngừng lời, Tổng Thống Diệm bất thần hỏi :
- Người ta nói ông Trí Quang thân Cộng, ông vẫn thường xuyên hoạt động cho Cộng sản có đúng vậy không?
Bác sĩ Quan đáp :
-Thưa Tổng Thống tôi không dám trả lời là có hay không.
Sau đó bác sĩ Quan trình bày đại ý rằng, Thượng tọa Trí Quang có là Cộng sản hay không vấn đề này thực sự quan trọng. Điều cần nhất là phải tìm hiểu sự tiến triển của Hội Phật giáo như thế nào và nhất là kiểm điểm những hình thức và môi trường nào đã đào tạo ra Thượng tọa Trí Quang ngày nay. Tóm lại bác sĩ Quan hoàn toàn dè dặt và không trả lời thẳng vào câu hỏi của Tổng Thống Diệm.
Tổng Thống Diệm yên lặng suy nghĩ lao lung. Sau đó, hỏi về môi trường đã đào tạo nên một Thích Trí Quang. Bác sĩ Quan đáp :
- Thầy Trí Quang cũng như một số thầy khác được đào tạo trong một lớp Phật học tại chùa Bảo Quốc mà bác sĩ Lê Đình Thám lúc ấy (1940) là Chủ tịch Hội nghiên cứu Phật học Trung Việt.
Tổng Thống Diệm đáp ngay :
- Tôi biết, Lê Đình Thám hiện thời đi ra đằng kia.
- Thưa Tổng Thống, có lẽ như vậy e không được rõ. Xin Tổng Thống cho tìm hiểu thêm một chút nữa may ra có thể giải quyết được.
Ông Nhu ngồi lim dim, từ nãy giờ ông vẫn im lặng không nói một câu. Khi nghe nhắc đến Lê Đình Thám, ông Nhu nhăn trán rồi bỗng đứng lên với vẻ giận dỗi nói trống không :
- Phải chứ! Điều đình với họ phải chắc, nếu không như vậy thì người ta lại đổ thừa cho mình đàn áp.
Đây chỉ là lời nói giận lẫy của ông Nhu, mọi người đều cảm thấy không khí thật nặng nề khó thở. Ông Nhu đứng lên đi thẳng một mạch, không nói thêm một câu. Trong phòng Tổng Thống Diệm chỉ còn lại Nguyễn Đình Thuần, Bùi văn Lương, bác sĩ Quan và bác sĩ Tuyến.
Tổng Thống Diệm vẫn bình tĩnh và như không để ý đến thái độ giận lẫy của ông Nhu. Tổng Thống Diệm bảo bác sĩ Quan :
- Tôi nhờ Trung tá ra ngoài đó coi xem như thế nào. Trung tá nói với các thầy ấy ngưng tuyệt thực đi và dân chúng đừng có làm gì phiền nhiễu quá đáng. Cứ từ từ rồi mọi việc sẽ được thu xếp ổn thoả.
Cuộc yết kiến Tổng Thống Diệm kéo dài trên 40 phút. Sau buổi chiều đó, Bộ Quốc phòng lo giấy tờ cho bác sĩ Trương Khuê Quan ra Huế. Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần trao cho bác sĩ Trương Khuê Quan hai lá thư viết tay phong kín – lá thư gởi riêng cho đại biểu Chính phủ Nguyễn Xuân Phương. Một lá yêu cầu trao tận tay Đại tá Đỗ Cao Trí Tư lệnh sư đoàn I – Nội dung lá thư đó vừa giới thiệu bác sĩ Quan vừa chỉ thị một số điểu căn bản về việc giải quyết vụ Phật giáo tại Huế và Quảng Trị.
Ông Ngô Đình Nhu chống lại phương thức giải quyết của Tổng Thống Diệm. Ông vẫn có định kiến: “Mấy tay đó tu hành khi được cái này sẽ đòi cái khác… có chiến lược trường kỳ mà… Ai còn lạ gì Lê Đình Thám… Hắn là marxiste mà… Phật giáo nhà nuộc Cộng sản mà”. Tuy vậy ông Nhu không thể chinh phục được Tổng Thống Diệm. Tổng Thống Diệm cũng có biết ít nhiều về giáo sư Lê Đình Thám. Nhưng có lẽ không được hiểu rõ lắm.
Khoảng năm 1956, trong một cuộc hành quân tại mật khu Mặt trận Dân tộc giải phóng tại Thừa Thiên (phần đầu đã viết) quân đội có bắt được một tài liệu mật thuộc loại “tài liệu chiến lược”. Tài liệu liên quan đến công tác tôn giáo vận tại miền Nam và những dự định tổ chức những hội đoàn Phật giáo theo công thức và chủ đích của Đảng Cộng sản. Tài liệu này được trao cho ông Cẩn và nó lại dính dáng tới Thượng tọa Trí Quang cũng như Thượng tọa Thiện Minh, sau đó ông Cẩn mời quý thầy tới tư thất để tìm hiểu và thông cảm. Ông Cẩn giữ tài liệu này như một bảo bối. Trường hợp ông Cẩn người ta nói rằng “chơi dao có ngày đứt tay” thì quả có đúng như vậy.
Thượng tọa Trí Quang, được Phật giáo miền Trung nhất là Phật tử giới trẻ tôn sùng như thần tượng. Trước vụ Phật giáo 1963, không có một dấu hiệu khả nghi nào về hoạt động chính trị của Thượng tọa Trí Quang. Riêng Thượng tọa Thiện Minh lại có những giao hảo rất tốt đẹp với ông Cẩn.
Bỗng dưng biến cố bùng nổ và mỗi ngày một lớn dần càng lan rộng tại Huế. Giới chức an ninh lại có báo cáo gửi về Sài Gòn cho biết Lãnh sự và Phó lãnh sự Mỹ tại Huế đã liên lạc mật thiết với các thầy tại chùa Từ Đàm. Sở dĩ biết được như thế vì giới an ninh ở đây đã móc nối với một nhà sư trẻ ở An Cựu, đệ tử của thầy Thiện Minh về sống gần các thầy… cho nên nhiều kế hoạch của Từ Đàm đã bị phát giác trước khi thực hiện.
Chính quyền trung ương mắc một lỗi lầm lớn là chỉ nhìn tình hình qua thông báo của địa phương mà báo cáo của giới chức an ninh thời nào cũng vậy đều bị méo mó nghề nghiệp và bị ám ảnh nặng nề bởi cái bóng ma Cộng sản. Có nhẽ ông Ngô Đình Nhu có định kiến với mấy thầy Trí Quang và Thiện Minh qua những báo cáo của địa phương chăng?
Dù ông Nhu không tán thành việc dàn xếp với mấy Thượng tọa chùa Từ Đàm nhưng ông cũng không ngăn cản (ông Nhu chỉ quyết liệt vào trung tuần tháng 7).
Ngày 6-6-l963, bác sĩ Trương Khuê Quan ra Huế đi chuyến máy bay đầu tiên. Không khí Huế lúc ấy nặng nề lắm. Chùa Từ Đàm bị phong tỏa thành phố mang vẻ ốm đau. Ông Nguyễn Xuân Khương đã chính thức nhận đại biểu Chính phủ vào ăn ở ngay trong căn phòng thuộc lầu 2 của tòa Đại biểu. Cho đến ngày bác sĩ Trương Khuê Quan ra Huế thì ông Nguyễn Xuân Khương có vẻ lạc quan cho rằng chính quyền sẽ thắng thế. Nhất là nhờ biện pháp cúp điện nước và phong tỏa, chùa Từ Đàm bắt đầu mệt mỏi. Nhưng ông Khương lại không hiểu quy luật tranh đấu và phương thức giải quyết đó phù hợp với những đòi hỏi xuất phát từ quy luật này. Giả như cúp điện nước và phong tỏa chùa có thể giúp chính quyền thắng thế nhưng chỉ là cái thắng thế nhất thời và chỉ tạo thêm cho phía tranh đấu có cớ để hào quang hóa đối tượng tranh đấu.
Từ đầu tháng 6, Phật tử Sài Gòn càng thêm nôn nao bất mãn về việc chính quyền cúp điện nước và phong tỏa chùa Từ Đàm. Từ đó, dư luận lại càng thêm sôi nổi và càng được bi đát hóa, báo chí Mỹ-Pháp lại có dịp khai thác và thổi phồng. Nhưng tình hình tại chỗ lại không bi đát như vậy.
Các Thượng tọa chùa Từ Đàm bắt đầu muốn nhượng bộ, nhưng dù sao vẫn còn tự ái và không thể làm mất hào quang cho cuộc tranh đấu được. Trong cái thế kẹt dó thì sự thành lập Ủy ban Liên bộ để cùng với Ủy ban Liên phái giải quyết song phương, được coi như một lối thoát tốt đẹp, mà không còn lối thoát nào khác hơn ngoài việc sử dụng biện pháp mạnh.
Bác sĩ Trương Khuê Quan ra Huế thi hành sứ mạng móc nối cho đường lối giải quyết này. Bác sĩ Trương Khuê Quan khi đến Huế thì vội vã gặp ngay ông Nguyễn Xuân Khương. Ông Khương còn đang trong phòng riêng với bộ quần áo ngủ tiếp “sứ giả” Sài Gòn. Theo Lương Khải Minh thuật lại thì bác sĩ Quan trao thư của Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần cho ông Khương, ông Khương vừa xem xong đổi sắc mặt, thái độ tức giận, ông đập mạnh lá thư xuống bàn nói với sự đau khổ của người thất bại “Thế này thì Chính phủ thua họ rồi còn gì”. Ông Khương nhăn nhó rồi nói với bác sĩ Trương Khuê Quan: “Ở đây đã giải quyết gần xong rồi, họ đã chịu thua rồi. Họ đã chịu điều kiện tổ chức một buổi lễ mời Tổng Thống ra để họ tạ tội rồi.
Bây giờ thế nầy thì Chính phủ thua rồi… chúng tôi còn làm gì được nữa”.
Bác sĩ Quan chỉ có nhiệm vụ thi hành chỉ thị của Tổng Thống Diệm. Ông không góp thêm một ư kiến nào. Khi Bác sĩ Trương Khuê Quan đến gặp Đại tá Đỗ cao Trí trao thư của ông Thuần, Đại tá coi thư xong cũng lộ vẻ giận dỗi, hoàn toàn không đồng ý. Đại tá Trí than trời: “Thế này thì làm sao mà dẹp cho êm được”. Ông Trí tâm sự với bác sĩ Trương Khê Quan: “Anh nghĩ coi… khó lắm anh ơi. Mấy cái ông thầy đó ngang ngược còn hơn… anh ơi” Ông Trí lại than vắn thở dài: “Nhưng thôi mình là nhà binh thì thượng cấp chỉ đâu làm đó, biết sao bây giờ”. Đại tá Đỗ cao Trí hứa với bác sĩ Quan: “Trong khả năng của tôi, tôi xin giúp cho anh mọi phương tiện mà anh cần”. Vẫn theo Lương Khải Minh sau đó Đại tá Đỗ cao Trí tự tay lái xe đưa bác sĩ Quan đến chùa Từ Đàm và tự tay ông nhắc hàng rào kẽm gai để bác sĩ Quan vượt qua “bức tường” phong tỏa.
Bên trong các thanh nữ Phật tử đang lo phận sự bố phòng canh gác. Không khí rất yên tĩnh. Các tu sĩ vẫn sinh hoạt bình thường.
Khi vào nhà trai thì Thượng tọa Trí Quang đang ngồi đánh cờ. Vừa trông thấy bác sĩ Quan Thượng tọa Trí Quang đã tươi cười “À chào sứ giả Hòa Bình và từ Sài Gòn ra”. Sau khi thi lễ vấn an bác sĩ Quan đi thẳng vào câu chuyện. Ông trình bày thiện chí giải quyết của Tổng Thống Diệm với Thượng tọa Quang và mấy Thượng tọa chủ chốt khác. Không khí thật vui vẻ hòa hoãn. Thượng tọa Trí Quang yêu cầu bác sĩ Quan can thiệp để nhà cầm quyền ngưng cúp điện nước, nhưng lúc đó thì ông Nguyễn Xuân Khương đã ra lệnh giải tỏa vấn đề điện nước, bây giờ chỉ còn hàng rào kẽm gai phong tỏa.
Buổi tối hôm ấy, bác sĩ Trương Khuê Quan lưu lại chùa Từ Đàm sau khi từ Quảng Trị trở về. Đây là một sứ giả duy nhất của Sài Gòn có dịp gần mấy Thương tọa trong thời gian 2 ngày để tìm sự thông cảm từ hai phía. Bác sĩ Quan cho Thượng tọa Trí Quang biết rõ ý của Tổng Thống Diệm là muốn các sư sãi ngưng ngay tuyệt thực và trở về nếp sống bình thường, sau đó Phật giáo sẽ cùng chính quyền giải quyết. Thượng tọa Trí Quang yên lặng một cách khó hiểu. Tuy nhiên ông cũng viết một lá thư trao cho bác sĩ Quan đưa ra Quảng Trị chỉ thị cho chùa Tỉnh Hội ở đây ngưng tuyệt thực.
Từ Huế ra Quảng Trị, Đại tá Đỗ Cao Trí phải cho xe gắn đại liên hộ tống bác sĩ Quan mặc dù đường Huế-Quảng Trị lúc ấy vẫn còn an ninh, xe cộ có thể đi lại suốt ngày đêm nhưng chuyến hành trình của bác sĩ Quan có vẻ gian nan và ông cũng linh cảm thấy sự ngột ngạt, khó chịu, khi đến Quảng Trị không khí còn ngột ngạt hơn.
Tại Quảng Trị, tình hình trong mấy ngày 4, 5, 6 càng trở nên sôi bỏng. Chùa Tỉnh Hội cũng như tại Từ Đàm Huế đều bị phong toả. Các tăng ni vẫn tiếp tục tuyệt thực. Không khí hết sức dao động.
Nhưng khi bác sĩ Quan trao thư tay của Thượng tọa Trí Quang thì cuộc tuyệt thực được chấm dứt ngay. Sứ giả Sài Gòn đã làm xong nhiệm vụ. Nhưng tình hình có thay đổi không chỉ là tạm thời an bình để sửa soạn cho một kế hoạch mới?
Giới chức Huế lúc bấy giờ không tin rằng phía các Thượng tọa có đủ lực lượng để làm lớn chuyện và cũng tin rằng có thể thu xếp xong bằng biện pháp mạnh. Tất cả đều chú ý đặc biệt đến Thượng tọa Trí Quang vì cho rằng vị Thượng tọa này mới là người chủ động, là linh hồn của cuộc tranh đấu. Nhưng sự thực Thượng tọa Thiện Minh mới là người chủ chốt hành động. Thượng tọa Trí Quang chỉ là khuôn mặt có tính cách tiêu biểu cho lãnh đạo Phật tử về mặt nổi, mặt chìm với phương tiện và người hành động đều do Thượng tọa Thiện Minh với tất cả phương thức tranh đấu của một người thâm sâu, bí hiểm lãnh đạo.
Khi được Tổng Thống Diệm chấp thuận hòa giải trực tiếp với các Thượng tọa Từ Đàm, phía Thượng tọa Thiện Minh đã thắng được hiệp đầu và gỡ được lối thoát cho các nhà lãnh đạo Phật giáo tại Huế đang bị bế tắc.
Khi Bác sĩ Trương Khuê Quan từ Quảng Trị trở lại Huế, ông ngủ lại chùa Từ Đàm một đêm. Trước đó, đại biểu Nguyễn Xuân Khương có đưa ông lại tư thất Đức Cha Ngô Đình Thục, ông Quan ngồi đợi tại phòng khách.
Đại biểu Khương vào trình bày với Đức Cha Thục đến 2 giờ đồng hồ về những chỉ thị hòa giải của Sài Gòn. Nhưng ông Quan vẫn không được Đức Cha Thục tiếp kiến và cũng không cho biết ý kiến của Đức Cha Thục như thế nào. Sau đó bác sĩ Quan cùng Đại biểu Khương đến tư dinh ông Cẩn và ở đây ông Quan cũng phải chờ đợi lâu cả giờ đồng hồ mà vẫn không được ông Cẩn tiếp.
Tuy vậy, cho đến lúc ấy ông Cẩn vẫn một lòng bênh vực giải pháp điều đình trực tiếp với Huế.
Điều mà trước đây ông đã thỉnh thị với Sài Gòn và chính ông đã cho chuyển lá thư tay của Thượng tọa Trí Quang lên Tổng Thống Diệm, lá thư ấy được viết ngay tại nhà ông Cẩn với lời lẽ hết sức khiêm nhường và chỉ yêu cầu giải quyết hai nguyện vọng mà thôi. Đến nay, Tổng Thống Diệm chấp thuận điều đình thẳng với Thượng tọa Từ Đàm tức là ông Cẩn đã toại nguyện, vì từ 7, 8 năm qua, ông Cẩn tự hào về mối liên hệ chặt chẽ giữa ông và các Thượng tọa Trí Quang, Thiện Minh cho nên biến cố xảy ra ngoài ý muốn của ông, ông cũng một lòng bênh vực các Thượng tọa cũng là điều dễ hiểu.
Bác sĩ Quan đã thành công một phần nhiệm vụ nhưng Sài Gòn lại đánh điện gọi ông Quan về gấp.
Trong thời gian bác sĩ Trương Khuê Quan ở Huế có nhiều truyền đơn được tung ra “tố cáo một Trung tá từ Sài Gòn đã âm mưu với các Thượng tọa chùa Từ Đàm”.
Không khí thật ngột ngạt. Ông Quan nhờ chiếc xe Cammontette của Chi cuộc quân tiếp vụ để ra phi trường Phú Bài cùng với Thượng tọa Thiện Minh về Sài Gòn. Viên Thượng sĩ chỉ cho ông mượn xe mà không dám tự lái xe vì trên xe có Thượng tọa Thiện Minh, ông cho mượn xe rồi chuồn lẹ. Lúc ấy, kể cả xe đò, xe ca của Air Việt Nam đều không chịu chở các Thượng tọa nhất là Thượng tọa Thiện Minh. Tình cờ, bác sĩ Quan gặp ông Cao Xuân Vỹ và Trung tá Huỳnh (Phó giám đốc Nha An ninh quân đội) ra công cán tại Huế và cùng về Sài Gòn một chuyến với ông Quan. Hai ông đi nhờ xe của quân tiếp vụ ra Phú Bài. Nhưng mặc dù cùng phục vụ một chế độ nhưng mỗi người lại thi hành cho một đường lối khác nhau.
Trên chuyến xe đó có cả Thượng tọa Thiện Minh. Nhịp cầu Phật giáo Huế và Sài Gòn bắt đầu bắc nhịp.
Khi trở về, bác sĩ Quan mới giật mình về chuyến đi quá nguy hiểm của ông mà chính Bộ Quốc phòng cũng không tiên liệu được. Không hiểu những tính toán như thế nào của giới chức tại Huế nhưng đã hoàn toàn bất lợi cho bác sĩ Quan.
Do đó, Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần phải đánh điện khẩn cấp gọi bác sĩ Quan về ngay, vì e ngại “có thể nguy đến tính mạng”.
Riêng Thượng tọa Thiện Minh, khi vào Sài Gòn lần này ông lại tiếp xúc một lần nữa với Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần. Bác sĩ Tuyến cũng đến thăm Thượng tọa Minh tại nhà một người quen. Qua cuộc mạn đàm với bác sĩ Tuyến, Thượng tọa Minh tỏ ra rất cởi mở và ôn hòa, có thể nói Thượng tọa Minh đã mềm dẻo ngoài sự mong đợi của chính quyền.
Ngày 5-6-1963, Ủy ban Liên bộ cùng Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo nhóm họp lần thứ nhất tại hội trường Diên Hồng. Về phía Chính phủ có Phó Tổng Thống Thơ, Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần và Bùi văn Lượng. Về phía Phật giáo có các Thượng tọa Tâm Châu, Thiện Minh, Thiện Hoa, Huyền Quang, Đức Nghiệp, Đại đức Đức Nghiệp là phát ngôn viên của phái đoàn Phật giáo.
Phiên họp đầu tiên mới chỉ có tính cách giới thiệu và nghi lễ cùng thảo luận một số vấn đề liên quan đến thủ tục và phương thức thảo luận.
Cho đến ngày 5-6, hiệu lực của Ủy ban Liên phái chưa có gì đáng kể, nếu không muốn nói là quá lỏng lẻo. Ngay trong Ủy ban Liên phái cũng có ba khuynh hướng. Khuynh hướng Phật giáo trong Nam vẫn còn dè dặt, e ngại vì sự hiện diện của Thượng tọa Thiện Minh, mà khuynh hướng này vẫn có định kiến là “Người của ông Cẩn”.
Khi Thượng tọa Thiện Minh vào Nam lãnh một vai trò quan trọng như vậy nhưng vẫn chưa có hậu thuẫn quần chúng, chưa có cán bộ, phần lớn cán bộ trong giai đoạn này đều thuộc ảnh hưởng của các Thượng tọa Châu, Thượng tọa Tâm Giác, Đức Nghiệp. Mà những cán bộ này (nói cán bộ không đúng danh nghĩa) hầu hết thuộc thành phần đảng phái Quốc gia có kinh nghiệm hành động và vốn bất mãn với chính quyền. Tuy không phải là Phật tử thuần thành nhưng cũng vẫn có danh nghĩa Phật tử và nhân cơ hội ngàn năm có một này thì họ tạm thời đứng cùng với Phật giáo để tranh đấu.
Đáng kể nhất là một số cán bộ thuộc Việt Nam Quốc dân Đảng (thuộc thế hệ trẻ) miền Bắc di cư, cũng như hai miền Nam Ngãi, giai đoạn đầu đã góp công không nhỏ làm hậu thuẫn cho các Thượng tọa trong Ủy ban Liên phái. Sau nữa là một số nhỏ trong hàng ngũ Đảng Duy dân.
Lớp cán bộ trẻ này, vì nhiệt huyết vì lòng trung kiên với lý tưởng và đồng thời cũng bị thúc đẩy bởi khát vọng làm thay đổi tình hình (họ có biết đâu đó chỉ là ảo tưởng)… cho nên nhân cơ hội “biến cố Phật giáo” thì vùng dậy.
Hầu hết lớp trẻ đã hết tin vào lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng, tan tác mỗi người một nơi không tổ chức nhưng vẫn còn truyền thống để kết hợp. Mà Phật giáo với hình ảnh một Tiêu Sơn tráng sĩ cũng là động cơ làm sống động truyền thống của Đảng… Với những lãnh tụ già nua hủ bại, đã không kết hợp được giới trẻ cho một công trình tranh đấu lớn lao. Bỗng nhiên một số Thượng tọa đứng lên lãnh đạo tranh đấu lần thứ nhất trong lịch sử Việt Nam sau nhà Lý. Chính các Thượng tọa này đã trở thành thần tượng thu hút hầu hết các đảng viên trẻ của Việt Nam Quốc dân Đảng cũng như Đại Việt (nhóm Tư Quyết và Ba Lòng) và một số nhỏ đảng viên Đảng Duy dân.
Giới đảng viên kỳ cựu cũng tích cực dấn mình vào cuộc tranh đấu như nhóm Việt quốc của cụ Bạch Vân (Công giáo) nhóm ông Đĩnh (tự Đĩnh cụt Công giáo) nhóm Việt quốc miền Nam, nhóm Đại Việt Nguyễn Tôn Hoàn, nhóm Việt quốc Như Phong, Nguyễn Hoạt (từ Tự Do).
Ngoại trừ mấy nhóm đảng viên kỳ cựu như đã viết ở trên còn các nhóm khác, hoạt động lẻ tẻ ủng hộ cuộc tranh đấu bằng tinh thần và hỗ trợ theo cách riêng. Hầu hết thành phần trẻ tạm thời tự động thoát ly Đảng để tự đặt mình trong công cuộc tranh đấu với hy vọng cuộc tranh đấu thành công thì họ sẽ là những thành phần cốt cán chủ động phục hồi đảng.
Vốn lãng mạn từ bản chất, tinh thần cách mạng tự lực, lớp trẻ này lại không được đào tạo theo một kỹ thuật đấu tranh, cũng không biết về quy luật đấu tranh, cho nên vô hình họ trở thành con tốt trong một ván cờ, mặc dầu khi dấn thân vào cuộc họ dâng cả trái tim, cả bầu nhiệt huyết, cả cuộc đời. Những Uyên, Thao, Vy, Ý là một thí dụ.
Qua văn thư của Chính phủ Mỹ do Phó đại sứ Truhert trao cho Bộ trưởng Thuần để trình lên Tổng Thống Diệm thì Chính phủ Mỹ nóng lòng thúc đẩy Tổng Thống Diệm giải quyết vụ Phật giáo, vì cho rằng báo chí và dư luận Mỹ đang bất lợi cho Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và riêng Tổng Thống Kennedy đang gặp khó khăn tại quốc nội do cuộc khủng hoảng tôn giáo tại miền Nam Việt Nam. Từ Ngoại trưởng Mỹ đến Tổng Thống Kennnedy đều cùng một lập trường, thúc đẩy Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa giải quyết mau lẹ vụ Phật giáo. Đại sứ Nolting vẫn là người bạn tri giao của ông Nhu và rất cảm phục Tổng Thống Diệm. Quan điểm của ông lúc ấy là tế nhị và dè dặt nhưng tích cực ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm.
Nhưng trong tòa Đại sứ Mỹ lại có một khuynh hướng tích cực chống đối chế độ Ngô Đình Diệm. Khuynh hướng này được ngấm ngầm hỗ trợ, bởi ông Phó đại sứ Truhert. Phía CIA (mặt nổi) đại diện là Đại tá Richarson lại cũng là người ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm, nhưng phụ tá của ông tức Smith lại có nhiều liên lạc ngầm với một số chính khách thuộc nhóm Phan Huy Quát, lại muốn nhân cuộc khủng hoảng Phật giáo để làm áp lực đòi Tổng Thống Diệm cải tổ nội các và thay đổi một số cơ chế trong guồng máy công quyền.
Phía CIA chìm (đây mới là yếu tố quan trọng) đã tìm mọi cách móc nối với một vài nhân vật thuộc phe tranh đấu Phật giáo (Đại đức Đức Nghiệp với tư cách phát ngôn viên, giao tiếp với ký giả Mỹ và CIA đã trá hình móc nối qua ngả này). Do đó, ngay khi phía Phật giáo và chính quyền ngồi vào bàn hội nghị thì đã có những bàn tay thứ ba quấy phá. Vì nếu như chính quyền và Phật giáo đi đến một ổn thỏa tốt đẹp thì họ không được lợi gì.
Từ cuối năm 1962 tại Mỹ đã có một khuynh hướng hỗ trợ nhóm Phan Huy Quát và đòi chính quyền Ngô Đình Diệm phải cải tổ; đặt thêm chức Thủ tướng với quyền hạn rộng rãi. Phan Huy Quát và xa hơn là Vũ Quốc Thúc có nhiều triển vọng được giới chức Mỹ áp lực với Tổng Thống Diệm đặt vào chức vụ Thủ tướng này.
Nhưng với một người ngang bướng và cương quyết như Diệm thì không bao giờ Mỹ có thể thành công trong những toan tính như vậy. Sự hiện diện của ông Nhu lại càng thêm khó khăn, vì không thể nào Ngô Đình Nhu có thể chấp thuận một Thủ tướng có quyền hành rộng rãi như kiểu Thủ tướng Phan Huy Quát, cho nên từ Harriman đến Hilsman và Truhert đều cho rằng muốn cải tổ nội các và cơ chế dân chủ tại miền Nam Việt Nam thì phải trục xuất vợ chồng ông Nhu. Tổng Thống Diệm sẽ không thể làm gì khác hơn là cai trị trên uy quyền tượng trưng. Nhưng toan tính đó không qua nổi cặp mắt của ông Nhu.
Cuộc hòa giải giữa chính quyền và Phật giáo qua Ủy ban Liên bộ và Liên phái đang tiến hành tốt đẹp thì bỗng nhiên gặp trở ngại.
Đổ thêm dầu vào lửa
Vào buổi sáng thứ bảy sau phiên họp ngày 5-6 giới chức Phủ Tổng Thống lại muốn điên đầu về bản thông báo của Hội phụ nữ Liên đới (tất nhiên là do bà Nhu soạn thảo). Trước đó bà Nhu triệu tập Hội đồng ban chấp hành Trung ương để thảo luận và tỏ thái độ về hòa giải trên.
Trong bản thông báo ấy, bà Nhu gay gắt lên tiếng phản đối phương thức giải quyết của ông Diệm và nặng lời công kích một số nhà lãnh đạo Phật giáo. Bà Nhu lấy lí do rằng Phật giáo cũng là một hội đoàn, Phong trào Liên đới cũng là một hội đoàn, và như vậy Phong trào Liên đới cũng có quyền lên tiếng, không có ai có quyền cấm đoán kể cả chính quyền. Cái ý của bà Nhu rất đúng, không ai có thể chối cãi được, vì trong một cộng đồng quốc gia các đoàn thể đều được đối xử ngang nhau trước luật pháp và đều được tỏ thái độ bất bình với một đoàn thể khác, miễn sao không xâm phạm đến an ninh quốc gia. Bà Nhu cho rằng bà lên tiếng công kích Phật giáo theo tư cách Chủ tịch Phong trào Liên đới tức là không dính dáng gì đến chính phủ, và Chính phủ phải coi đó là điều kiện tối cần để ủng hộ. Bởi vì khi Chính phủ đang có chuyện rắc rối với một hội đoàn khác lên tiếng công kích hội đoàn này và hỗ trợ Chính phủ như vậy có còn có cái may mắn nào hơn.
Nhưng thực tế đâu có giản đơn như vậy mà nhất là thực tế xã hội Việt Nam Cộng Hòa thì không thể dùng một thứ “lôgíc” nào phân tích được Bà Nhu là em dâu một Tổng Thống, uy quyền của bà trên thực tế ai cũng thấy và nhất là bản thông báo của bà lại do một phiên họp tổ chức ngay trong dinh Gia Long thì bản thông báo ấy đã mặc nhiên là tiếng nói bán chính thức của chính quyền, dù cho có biện minh khéo léo đến thế nào thì cũng không ai nghe.
Bà Nhu thường viết diễn văn thông cáo bằng Pháp văn, có nhẽ bản thông cáo do người dịch thiếu sự am tường và tế nhị của Việt ngữ nên bản Pháp văn đã nặng nề dịch ra tiếng Việt lại càng nặng nề hơn.
Bà Nhu quyết định phổ biến bản thông cáo đó trên báo chí.
Cũng vào sáng thứ bảy hôm ấy trong một bài nói về Phật giáo Việt Nam, xướng ngôn viên đã không tiếc lời ca ngợi công đức Tổng Thống đối với sự phát huy Phật giáo và đưa ra thống kê: số chùa trong toàn Việt Nam Cộng Hòa là 4776. Khi Tổng Thống Diệm chấp chính từ 1954 đến 1963 thì Phật giáo xây dựng thêm 1.275 ngôi chùa mới và trùng tu được 1.295 ngôi chùa đã hư hại vì thời gian và chiến tranh.
Sự thực thì Tổng Thống Diệm đã giúp rất nhiều tài chính và phương tiện để xây cất chùa. Đó là điều Tổng hội Phật giáo miền Nam Việt Nam đều biết rõ. Thế nhưng khi cao trào tranh đấu đang lên thì dân chúng lại không tin những con số thống kê về thành tích của Chính phủ đối với Phật giáo. Huống chi thông cáo của bà Nhu thì không ai có thể tin rằng đó là thái độ trung thực. Nhất là bản thông cáo ấy lại nói trùm lấp cả một tập thể lớn như Phật giáo. Phương thuật chính trị dùng để phản đối phe “đối lập” không dùng cách này.
Khoảng 10g sáng thứ bảy bác sĩ Tuyến vào Dinh và đến phòng ông Đổng lý Đoàn Thêm thì ông Phan văn Tạo Tổng giám đốc Thông tin bước vào, ông Tổng giám đốc Thông tin đang muốn “điên cái đầu” vì bản thông cáo mà bà Nhu làm áp lực phải phổ biến trên báo chí.
Ông Tổng giám đốc Thông tin cho biết bà Nhu có gọi điện thoại thẳng cho ông hỏi tại sao không phổ biến thông cáo ấy vào các số báo xuất bản sáng thứ bảy. Ông Tạo phải tìm cách nói khéo để có thể kéo dài thời gian hòng có thể tiếp xúc thẳng với Phủ Tổng Thống Với nội dung bản thông cáo ấy ông Phan văn Tạo cũng cảm thấy sẽ gây nên phản ứng bất lợi trong dư luận.
Từ ông Đoàn Thêm đến bác sĩ Tuyến đều đồng ý như vậy. Nhưng làm thế nào để ngăn chặn nổi khi bà Nhu muốn. Quyết định sao chỉ có Tổng Thống Diệm mới quyết định được.
Thời nào cũng vậy, đảm trách ngành thông tin ở một xứ chậm tiến quả thực vạn phần khó khăn nhất là khi gặp biến cố lớn.
Khoảng 11g30, ông Thuấn trở về văn phòng. Xem xong bản thông cáo thì ông cũng phải đồng ý là không thể phổ biến ngay được và phải trình lên Tổng Thống Diệm.
Khi lên yết kiến Tổng Thống và trình bày lợi hại, Tổng Thống Diệm cũng đồng ý với ông Thuần không thể phổ biến bản thông cáo này được.
Chiều hướng giải quyết nhưng tranh chấp nội bộ bao giờ cũng đòi hỏi sự tế nhị khôn khéo và nhất là phải tránh ngộ nhận, một khi đã tạo nên ngộ nhận thì khó lòng có thể giải quyết êm xuôi, giải quyết những tranh chấp không thể sử dụng những hình thức thông cáo, tuyên ngôn khi mà những hình thức này chỉ tạo thêm sự rắc rối.
Bà Nhu lý luận rằng: Bà không chống lại Phật giáo mà bà chỉ chống lại những phần tử lợi dụng Phật giáo. Nhưng vì không có căn bản và kinh nghiệm chính trị nên bà đã quên yếu tố này:Dù là một thiểu số cá nhân nhưng những cá nhân đó khi tạo được danh nghĩa để nhân danh tập thể thì những cá nhân đó tự nhiên và mặc nhiên đại diện cho danh dự và chính nghĩa mà họ đang lôi kéo quần chúng ủng hộ.
Nếu quần chúng phê bình thì chỉ phê bình một chiều và do một thiểu số lãnh đạo quần chúng chỉ dẫn sách động. Bản thông cáo của bà Nhu chỉ cần xén bớt một vài câu vài lời cũng đủ vốn liếng để phẫn nộ trong quần chúng (thực tế đã xảy ra như vậy).
Khi được biết ý kiến của Tổng Thống Diệm và ông Bộ trưởng Thuần, ông Tổng giám đốc Thông tin yên trí có thể dẹp bản thông cáo của bà Nhu. Nhưng bà Nhu đâu có chịu thua một cách dễ dàng như vậy.
Bà Nhu lại gọi điện thoại cho Phan văn Tạo một lần nữa và cật vấn tại sao không cho phổ biến.
Ông Tạo thực tình trình bày, sở dĩ không cho phổ biến là ý nghĩ của Tổng Thống Với giọng nói tức giận bà Nhu bảo ông chờ máy để bà hỏi lại Tổng Thống Cuộc hội kiến giữa bà Nhu và Tổng Thống Diệm như thế nào không được rõ, nhưng sau đó, bà Nhu cho ông Tạo biết là Tổng Thống đã đồng ý. Tuy vậy ông Phan văn Tạo vẫn chưa tin nên không dám phổ biến ngay. Ông lại thỉnh thị ý kiến của Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần.
Ông Thuần đem tự sự trình với Tổng Thống Diệm thì ông Tổng Thống tỏ vẻ khó chịu lắm và vẫn ý kiến cũ là không cho phổ biến bản thông cáo này. Thảng hoặc tìm cách phổ biến một cách hạn hẹp. Trùng vào ngày các báo Việt ngữ nghỉ hàng tuần nên bản thông cáo ấy chỉ phổ biến trên bản tin của Việt Tấn xã (ấn bản ngoại ngữ) và tờ Journal Extrême Orient, Time of Việt Nam đăng.
Trước đó, trưa thứ bảy khi ông Thuần vào gặp Tổng Thống ông Thuần tỏ vẻ buồn phiền nói với bác sĩ Tuyến và ông Đoàn Thêm: “Phổ biến bản thông cáo này thì bất lợi cho cuộc hòa giải lắm. Bà Nhu bảo Tổng Thống đã đồng ý như vậ ykhông hiểu Chính phủ dứt khoát vấn đề như thế nào?”.
Nhưng Tổng Thống Diệm đã xác định rõ với ông Thuần: “Chính sách của Chính phủ không có gì thay đổi cả”.
Chiều chủ nhật, ông Bộ trưởng Thuần một lần nữa lại vào dinh xin gặp Tổng Thống nhưng ông Diệm mắc bận.
Cuối cùng ông Tạo đành phổ biến và nói với bác sĩ Tuyến: “Không biết làm sao hơn”. Cũng như trước đó, ông phải trả lời bà Nhu: “Tổng Thống đã đồng ý như vậy thì tôi xin tuân theo ý Tổng Thống”.
Sáng thứ hai, thông cáo trên được phổ biến, từ chiều đã được đăng tải trên hầu hết các báo Việt ngữ (ra vào thứ ba).
Kết quả đúng như sự tiên liệu: Bản thông cáo với lời lẽ cứng rắn (nếu không muốn nói là lớn tiếng cao ngạo cùng lập trường chống lại phương thức hòa giải qua Ủy ban Liên bộ và Liên phái) đã tạo nên một phản ứng mạnh về phía Phật giáo. Dư luận cũng tỏ ý bất mãn. Nghĩa là bản thông cáo của bà Nhu hoàn toàn bất lợi cho chính quyền và đối với cuộc tranh đấu Phật giáo. Nó như một thùng dầu lớn đổ vào ngọn lửa chưa cháy to.
Lửa đã thực sự bùng lên
Hòa thượng Quảng Đức là nhà tu, tự nguyện mở đường cho giai đoạn này. Sáng ngày thứ ba 2-6 Hòa thượng Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Lê văn Duyệt – Phan Đình Phùng. Một tiếng sét lớn. Cơn giông tố thực sự bắt đầu. Tiếng sét làm rung chuyển con người Tổng Thống Diệm. Cuộc hy sinh tự thiêu để hiến thân cho dân tộc và Đạo pháp của Hòa thượng Quảng Đức có phải là một phản ứng đột ngột trước bản thông cáo của bà Nhu không? Sự hy sinh của Hòa thượng thực sự được sửa soạn bố trí nhiều ngày.
Sáng 2-6 hồi 9g30, một lễ cầu siêu được tổ chức tại chùa Phước Hòa với hàng trăm tăng ni tham dự.
Sau đó, các tăng ni tiến về phía ngã tư Lê văn Duyệt – Phan Đình Phùng và ở đây Hòa thượng Quảng Đức đã tự thiêu.
Hòa thượng đi trên một chiếc xe Austin (chiếc xe này của ông Trần Quang Thuận rể của cụ Tôn Thất Hối)…
Cũng vào giờ này, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đang dự lễ cầu hồn cho Đức Giáo hoàng Gian XXIII tại vương cung thánh đường do Đức cha Nguyễn văn Bình làm chủ lễ đại triều. Tham dự lễ đó có đông đủ bá quan văn võ từ Phó Tổng Thống Thơ đến Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng Ngoại giao đoàn và đặc biệt giới Ngoại giao Pháp cũng có mặt đông đủ.
Khi vừa tan lễ thì Bộ trưởng Bộ Nội vụ Bùi văn Lương đến bên Tổng Thống Ngô Đình Diệm báo cho ông biết về vụ tự thiêu tại đường Phan Đình Phùng. Tổng Thống Diệm đứng khựng lại mặt đỏ bừng rồi biến sắc, ông nói “Có gì mà phải làm như vậy”, Tổng Thống Diệm lật đật về dinh.
Theo sĩ quan tùy viên Lê Công Hoàn, từ sáng hôm ấy Tổng Thống Diệm bắt đầu cho một chuỗi dài những ngày lầm lì ít nói, có khi ngồi lặng thinh hút thuốc lá lâu hàng giờ đồng hồ.
Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần vào yết kiến Tổng Thống ngay sau đó. Tổng Thống Diệm lừ đừ, mặt cúi gầm.
Ông ngồi lặng thinh cả nửa giờ, hút hết điếu thuốc này qua điếu khác, ông thả vài đợt khói rồi lại dụi tàn. Một lát sau, Tổng Thống Diệm bảo ông Thuần: “Việc gì rồi thu xếp, có gì mà phải làm như vậy (ý nói vụ tự thiêu)”.
Giới thân cận nhất của Tổng Thống Diệm đều xác nhận: Thái độ của Tổng Thống Diệm lúc ấy thật bàng hoàng. Nét mặt ông đau xót trông thấy. Tại sao như vậy? Điều dễ hiểu ông là một tín đồ Thiên Chúa giáo rất ngoan đạo, lại là một nhà Nho, cho nên trước biến cố như vậy tự nhiên là ông xúc động. Lương tâm Thiên Chúa giáo cũng dày vò ông vì Giáo lý không cho phép tự hủy mình, ông là kẻ gây nên sự tự hủy mình của người khác cũng là một trọng tội. Tổng Thống Diệm chắc chắn bị xúc động từ một mặc cảm này mặc dù người trong cuộc ai cũng biết ông không có trách nhiệm nhưng ở phương vị lãnh đạo với quan niệm nho gia thì tự ông thấy mình có trách nhiệm.
Ngay buổi chiều đó, Tổng Thống Diệm cho soạn thảo một bản hiệu triệu quốc dân, trong đó Tổng Thống Diệm nói rõ với quốc dân rằng “Sự hòa giải đang tiến hành tốt đẹp thì sớm nay do sự tuyên truyền quá khích che giấu sự thật gây sự hoài nghi về thiện chí của Chính phủ khiến một số người bị đầu độc gây ra một án mạng oan uổng làm tôi rất đau lòng” (nguyên văn).
Phía Phật giáo bước qua một giai đoạn mới. Trước vụ tự thiêu thì chỉ có một số Phật tử ruột của các Thượng tọa tích cực tham gia cùng với các thành phần đảng phái quốc gia đối lập nhưng sau vụ tự thiêu khối quần chúng trầm lặng đông đảo vốn tiêu cực trong bao lâu nay cũng bị xúc động mạnh và bắt đầu nghiêng hẳn về hàng ngũ tranh đấu.
Dầu cứ đổ thêm vào lửa… Phía tranh đấu khai thác triệt để bản thông cáo của bà Nhu… Như trên đã viết đọc đầy đủ bản văn đó thì không có gì nặng nề, nhưng quả tình có những từ ngữ rất dễ gây nên sự bất mãn.
Dạo năm 1963 người Việt Nam mọi giới chưa có kinh nghiệm về người Mỹ. Lúc ấy có 16.000 cố vấn Mỹ thì hình bóng của người Mỹ còn chưa có lớn lao đến sinh hoạt của quốc gia và xã hội. Người Việt cũng chưa bị ám ảnh về tổ chức CIA và cũng chưa hiểu rõ sức mạnh của tổ chức này. (Ngoại trừ giới chính khách và quân nhân cao cấp). Thế nên khi bà Nhu nói rằng các nhà sư bị ngoại bang xúi giục thì đối với quần chúng còn quá mơ hồ và người ta tự hỏi ngoại bang là ai? Nếu nói là Mỹ thì quần chúng sẽ không tin vì Mỹ đang ủng hộ chính quyền, do đó sự tố cáo của bà Nhu dù cho là thực thì dân chúng vẫn cho là điều vu cáo. Dân chúng Việt Nam lại không bao giờ chấp nhận một người đàn bà (dù ở địa vị nào) lớn tiếng vu cáo các nhà tu hành và các tổ chức tôn giáo. (Bằng chứng bà Nhu đã mất nhiều cảm tình của tín đồ Thiên chúa giáo khi công kích một số linh mục bà cho rằng chuyên môn chạy affaire). Cũng trước đó năm 1954, giáo dân Phát Diệm di cư dù ủng hộ Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng tỏ ra phẫn nộ khi Đài phát thanh công kích cha Hoàng Quỳnh và gọi cha Quỳnh là “Đại úy Hoàng Quỳnh”.
Theo giới thân cận thì trong mấy ngày liền ông Tổng Thống vẫn lầm lì, đôi lúc không có chuyện gì đáng kể ông Tổng Thống vẫn “quắc mắt nhìn lừ đừ” rồi lại cúi xuống dụi tàn thuốc lá liên miên.
Điều làm cho Tổng Thống Diệm tức giận hơn cả là vụ chiếc xe Austin của Trần Quang Thuận. Lúc ấy, Trần Quang Thuận đang là một quân nhân. Ông Tổng Thống nổi giận gọi Tôn Thất Thiết, Chánh Sở Nội dịch lên rầy rà (mặc dù ông Thiết không dính dáng gì đến nội vụ). Và biểu Tôn Thất Thiết nói với cụ Tôn Thất Hồi (coi nhau như người trong nhà). Cụ Hối vẫn tỏ lòng thầm phục vị cựu Thượng thư của triều Nguyễn. Tuy Trần Quang Thuận bị thượng cấp gọi lên rầy rà nhưng cũng không sao cả (sau này ông ta mới bị bắt). Ông Thuận thanh minh rằng tình cờ cho người ta mượn xe mà thôi.
Cái xe của Trần Quang Thuận cũng là một trong những vết thương nội tâm của Tổng Thống
Ngoài ra khí báo chí Mỹ càng công kích chính quyền bao nhiêu thì Tổng Thống Diệm càng dao động vì bản tính của ông trong bấy lâu rất thận trọng và e ngại các vụ “sì căng đan…”. Mặt khác ông Nhu đã thầm cảm thấy rằng bang giao Việt Mỹ đang rạn nứt trầm trọng. Nắm chính quyền trong tay hẳn nhiên ông Nhu biết rõ thực lực của Ủy ban Liên phái. Điều mà chính quyền e ngại lúc ấy là phong trào tranh đấu sẽ bột phát và lan rộng trong giới học sinh, sinh viên vì đây mới là thành phần quan trọng và chính tập thể sinh viên học sinh đã đóng vai trò chủ động trong vụ Phật giáo.
Ông Nhu chủ trương áp dụng biện pháp mạnh đối với thiểu số tranh đấu, sách động, tức là triệt hạ được cái căn bản từ đó mà Mỹ không có đối tượng để khuynh đảo khuấy động.
Phía Tổng Thống Diệm lại chủ trương triệt để hòa giải thu xếp sao cho êm đẹp. Bởi vậy trong thời gian thi hài cố Hòa thượng Quảng Đức còn quàn tại chùa Xá Lợi thì Tổng Thống Diệm luôn luôn thúc giục ông Nguyễn Đình Thuần phải tìm cách nối tiếp cuộc thương nghị với Ủy ban Liên phái. Kể từ ngày 13, 14 và 15, Ủy ban Liên phái đã có đủ thì giờ trắc nghiệm lòng dân đối với cuộc tranh đấu của Phật giáo… Theo sự thỏa thuận chung giữa Đại đức Đức Nghiệp, phát ngôn viên Ủy ban Liên phái và ông Trần văn Tư Giám đốc nha Cảnh sát đô thành thì Phật tử đến viếng cố Hòa thượng Quảng Đức đều tập trung tại chùa Giác Minh, theo lịch trình luân phiên chín chùa lớn trong Sài Gòn-Gia Định, sẽ lần lượt từng 400 người được chở đến chùa Xá Lợi do xe cảnh sát hướng dẫn. Những chuyến xe đi lại không ngừng, nhất là trong ngày 14, ước lượng có đến 5.000 Phật tử được chuyên chở đến chùa Xá Lợi.
Bản thông cáo chung
Ngày 14-6 Ủy ban Liên phái lại cùng Ủy ban Liên bộ tiếp tục thương nghị. Cũng ngày hôm ấy, hội đồng các tướng lãnh ra thông cáo kêu gọi nhân dân đoàn kết tránh hiểu lầm gây hoang mang và đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết. Khi chỉ thị cho các tướng lãnh hội họp và ra thông cáo như vậy, dù có lợi cho chính quyền nhưng ông Nhu đã bắt đầu đi vào một nước cờ sai lầm hệ trọng. Trước năm 1963, số tướng lãnh tuy còn ít ỏi (18 vị) nhưng là 18 ốc đảo do quyền lợi cá tính địa vị họ không thể nào ngồi cùng với nhau được để bàn tính đại sự, nhưng ông Nhu đã tính sai khi quy tụ tướng lãnh lại để cùng bàn luận và ra thông cáo. Kết qua phiên họp ngày 14-6 được coi là tốt đẹp, Ủy ban Liên phái ôn hòa đến độ phái chính quyền không ngờ (ngoại trừ phía ông Ngô Đình Nhu). Các Thượng tọa Tâm Châu cũng như Thiện Minh đều tỏ ra có thiện chí hòa giải và thông cảm với Ủy ban Liên bộ trong khi đó thì ngay nội bộ Ủy ban Liên phái lại có một vài vị Thượng tọa, Đại đức tỏ ra tích cực và quyết liệt với chính quyền. Đáng kể là Thượng tọa Trí Quang và Đại đức Đức Nghiệp.
Lúc ấy, hai vị này lại đang được giới Phật tử nhất là thành phần trẻ hết sức mến mộ.
Lễ an táng Hòa thượng Quảng Đức ấn định vào ngày chủ nhật. Một số đông cán bộ trẻ quyết liệt thì chủ trương phải biến đám tang thành một cuộc tuần hành vĩ đại. Đứng đầu chủ trương này trước sau vẫn là Thượng tọa Thích Trí Quang cũng như Đại đức Đức Nghiệp. Nhưng sáng thứ bảy thì Đô trưởng Sài Gòn lại gửi một văn thư qua Đại đức Đức Nghiệp lưu ý vấn đề an ninh và đặt vấn đề trách nhiệm nhưng bất trắc rối loạn có thể xảy ra. Văn thư ấy do tòa Đô chánh đơn phương gởi đi. Thực tình ông Đô trưởng chỉ là một nhà hành chính, quen với lề lối làm việc theo kiểu thư lại chủ nghĩa cho nên gửi văn thư ấy cũng chỉ là một cách đề phòng nếu có gì xảy ra thì còn cớ để trình với thượng cấp. Nhưng phía Đại đức Đức Nghiệp lại nghĩ rằng đây là cách đe dọa cố ý. Nhưng cuối cùng tòa Đô chánh cũng như Đại đức Đức Nghiệp đồng thỏa thuận tạm thời dừng đám tang lại. Đây là đề nghị của Đại đức Đức Nghiệp. Vì không phải là nhà chính trị nên Đô trưởng và giới chức liên hệ vui vẻ đồng ý ngay. Nhưng xét về kỹ thuật tranh đấu và chống tranh đấu thì tòa Đô chánh đã hố to thua đậm.
Tuy Đại đức Đức Nghiệp và Đô trưởng Sài Gòn đã đồng ý tạm chuyển đám tang Hòa thượng Quảng Đức đến ngày 10, nhưng Phật tử trong Đô thành và Gia Định đã sửa soạn đi đưa đám tang vào sáng chủ nhật. Bây giờ phải làm thế nào? Phía Phật giáo đồng ý đưa ra một thông cáo về quyết định chuyển ngày an táng mà do chính Đại đức Đức Nghiệp thỉnh cầu. Nhưng đã quá gấp, tối thứ bảy mới có thông cáo này. Phía Phật giáo nhờ chính quyền phổ biến giúp, chính quyền nhận lời ngay.
Trong tối thứ bảy, ngoài việc nhờ radio liên tiếp phổ biến, giới chức Đô thành lại còn huy động hàng chục xe phát thanh chạy đến khắp nơi trong Đô thành từ hang cùng ngõ hẻm, đến những đường phố lớn để loan báo thông cáo của Ủy ban liên phái. Dân chúng nghe tin này rất ngạc nhiên về sự thay đổi như vậy. Trong không khí lúc ấy, không ai tin nơi thiện chí của chính quyền và lại nghi ngờ rằng chắc hẳn chính quyền quyết định chơi trò thủ đoạn nào đây. Dân chúng nghi ngờ như vậy cũng có lý. Nhưng quả thực thì oan cho giới chức Đô thành chỉ vì đã không đủ kinh nghiệm chính trị lại quá câu nệ về biện pháp hành chính mà thực ra không có hiệu quả gì chỉ tạo thêm ngộ nhận. Hơn nữa biện pháp hành chính đó (kết quả của thói quen thư lại chủ nghĩa) đã phạm vào lỗi lầm quan trọng về chiến thuật chính trị mà nhà cầm quyền nào khi muốn đương đầu với biến cố không thể nào bỏ qua được. Đó là “một định luật” sơ đẳng về việc sách động một “đám tang chính trị”… Một đám tang có tầm mức quan trọng và đang gây xúc động lớn như đám tang Hòa thượng Quảng Đức thì càng kéo dài, càng trì hoãn bao nhiêu thì càng thắng lợi lớn cho phía tranh đấu. Thi hài cố Hòa thượng Quảng Đức quàn tại chùa Xá Lợi trong vòng năm ngày đã là một thời gian khá dài, khí thế tranh đấu mỗi ngày, mỗi giờ càng lên cao… Dân chúng càng giao động… thi hài cố Hòa thượng càng kết đọng thành một biểu tượng ngàn ngạt hương hoa của khí thế như một phiến nam châm thu hút quần chúng… Trong tình thế sôi bỏng như vậy, giới chức Đô thành tự dâng một chiếc bẫy, tự ném mình vào chiếc rọ lớn mà chỉ hôm sau (tức sáng chủ nhật) đã nhận ngay hậu qua. Phía Ủy ban Liên phái tự nhiên thắng lợi và có thể mạnh miệng quy hết trách nhiệm cho nhà cầm quyền với những lý do rõ rệt.
Theo đúng ngày giờ đã quy định dù đã có thông cáo của Ủy ban Liên phái chuyển thời gian, Phật tử vẫn cứ tấp nập kéo nhau đến chùa Giác Minh để tập trung theo lịch trình đã ấn định để đến chùa Xá Lợi đưa đám tang cố Hòa thượng. Như trên đã viết, trong không khí sôi động lúc ấy thì Phật tử đâu có tin vào bản thông cáo của Ủy ban Liên phái do nhà cầm quyền đã phổ biến khi đám đông đã tập hợp thành một khối cả ngàn người, thì đám đông đó sẽ làm chủ tất cả vượt trên cả lề luật nguyên tắc và chỉ còn là một sức mạnh bị điều động bởi lòng hăng say và sẵn sàng phẫn nộ đúng như vậy, dù các nhà sư đến tận nơi nói rõ cho đồng bào rõ, đồng bào vẫn không tin và chuyển hướng luôn “Nếu không đi đưa đám thì chúng tôi sẽ đến chùa Xá Lợi viếng nhục thể cố Hòa thượng”.
Đồng bào ùn ùn kéo đi… đến ngã tư Phan Thanh Giản, Lê văn Duyệt thì bị chận đứng lại.
Sự hiện diện của cảnh sát và cảnh sát chiến đấu trước mặt đám đông càng tăng cường khí thế của đám đông ấy và sự hiện diện này như một sự khiêu khích cho dù cảnh sát không khiêu khích. Thượng tọa Tam Giác và mấy Đại đức lại dùng loa phát thanh gắn trên xe lam ba bánh kêu gọi đồng bào trật tự, quay trở lại chùa Giác Minh. Nhưng lúc ấy dù là một Thượng tọa uy quyền nào cũng khó lòng nói lọt tai đám đông…
Thế là đám đông tràn lên… Cảnh sát đối phó, lựu đạn cay vùn vụt… lại xô xát… một số thanh niên bị bắt… Thêm một đổ vỡ. Vậy thì dù không chủ trương đàn áp nhưng chỉ vì sơ hở không hiểu quy luật tranh đấu phía chính quyền bỗng dưng mang cái vạ đàn áp, kết quả chưa thu xếp chuyện này xong lại tạo ra một chuyện khác.
Mà oán thù thì nhân viên công lực trực tiếp lãnh đủ cho nên sau ngày đảo chính thì ông Kính quận III đi tù trước tiên chứ ông Đô trưởng thì không sao cả, được coi như người vô can.
Bởi vậy một thành phố Sài Gòn gặp những tháng năm đầy biến cố mà lại gặp viên Đô trưởng thiếu khả năng chính trị, không ý thức nổi vai trò hay chỉ biết chỉ đâu đánh đấy thì thiết tưởng đó cũng là một cái họa của một chế độ.
Đám tang cố Hòa thượng Quảng Đức chậm lại thêm bốn ngày nữa… Thật là bốn ngày giông bão đối với cảnh sát thuộc quận III và giới an ninh Đô thành. Nhưng kéo dài thêm bốn ngày Ủy ban Liên phái có lợi từng giờ từng phút. Đó cũng là cơ hội để chuẩn bị tinh thần tranh đấu dài hơn và là một dịp ngàn vàng để biểu dương lực lượng với khí thế đang dâng cao. Còn một điều quan trọng nữa là các bài thuyết pháp của một số thượng tọa, Đại đức như Thượng tọa Trí Quang, Quảng Đức, Đại đức Đức Nghiệp… Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam và có lẽ trên thế giới (ngoại trừ Ấn Độ với thánh Gandhi không thuyết pháp như ở xứ ta) các nhà sư thuyết pháp chỉ đề cập đến thời sự chính trị bất công va kỳ thị tôn giáo. Trong 8 năm và trải qua bao nhiêu kềm kẹp, dân chúng ai cũng hoan hỉ được nghe hay đọc những lời công kích chính quyền một cách nảy lửa như vậy.
Nếu công kích Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì chưa chắc đã đạt được kết quả như công kích vợ chồng ông Nhu. Các Thượng tọa thuộc Ủy ban Liên phái đã đánh trúng cảm quan của dân chúng, dân chúng rất tán thưởng. Đó cũng chỉ là tâm lý thường tình của dân chúng ngoài phố. Ở Pháp thời Napoléon dân chúng rất khóai nghe lời bàn tán công kích Hoàng hậu Joséphine và mấy cô em của Napoléon hơn là chế độ quân chủ chuyên chế của Napoléon.
Phía bà Nhu lại càng sôi nổi tức giận…
Thuyết pháp nảy lửa vẫn tiếp tục thì cuộc thương nghị của Ủy ban Liên phái và Ủy ban liên bộ tại hội trường Diên Hồng tự nhiên không đủ hiệu lực để thu hút sự chú ý của dân chúng.
Ngày 16-6 bản thông cáo chung được ký kết.
Thời gian giải quyết dù mới chỉ là tờ giấy và nguyên tắc chung được coi là quá mau lẹ. Khi bản thông cáo được ký kết, giới quan sát chính trị tại Sài Gòn lúc ấy cũng bất ngờ và cả phía ông Nhu cũng bất ngờ nữa. Riêng ông Nhu tự coi đã xong chuyện và đó là quyền của ông anh Tổng Thống Nhưng bản thông cáo ấy ra đời thì bị các biến cố khác vượt qua và tràn ngập. Ngay phía Phật giáo cũng không mấy ai quan tâm đặc biệt đến bản thông cáo vì mọi người còn đang đổ dồn mọi nỗ lực trong việc an táng Hòa thượng Quảng Đức và động viên tinh thần Phật tử. Nếu bản thông cáo ấy được ký kết trước vụ tự thiêu của Hòa thượng Quảng Đức hoặc sau ngày 19-6 thì chắc chắn sẽ có hiệu lực, tác động được sự lưu tâm của dân chúng. Bởi vậy sự giải quyết của chính quyền dù thiện chí đến đâu nếu không lựa chọn thời gian và không gian, nếu không đáp ứng đúng đòi hỏi của thực tế trong thời gian ấy thì sẽ trở nên phù phiếm bởi nó không có hiệu lực gây nên sự lưu ý đặc biệt của dân chúng để dễ dàng sáng tỏ thiện chí giải quyết.
Họp liên tiếp trong ba ngày cho đến 1 giờ 30 ngày chủ nhật (16-6) hai Ủy ban Liên bộ và Ủy ban Liên phái ký kết thông cáo chung gồm năm điểm để giải quyết năm nguyện vọng do Tổng hội Phật giáo Nam Việt Nam đề ra Phái đoàn Phật giáo do ba Thượng tọa Tâm Châu, Thiện Minh, Thiện Hoa đồng ý ký tên.
Phía chính quyền gồm Phó Tổng Thống Thơ, Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần, Bùi văn Lương. Dưới bản thông cáo chung, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết “khán” với tư cách Hội chủ Tổng hội Phật giáo Nam Việt Nam, khi đưa bản thông cáo này về dinh Gia Long, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho là tốt đẹp. Nhưng Tổng Thống Diệm lại ngần ngại về điểm ông sẽ ký ở chỗ nào trong bản thông cáo.
Trong văn phòng Tổng Thống lúc ấy có mặt ông Nhu, ông Thuần. Cả ba người đều không tìm được cách nào giải quyết về điểm này, nhưng đối với Tổng Thống Diệm là một sự quan trọng. Theo ông Thuần thì không lẽ Tổng Thống với tư cách Quốc trưởng lại ký ngang hàng với Hòa thượng Thích Tịnh Khiết.
Dù Hòa thượng là người thủ lãnh tối cao của Tổng hội Phật giáo Nam Việt Nam nhưng Tổng hội Phật giáo cũng chỉ là một đoàn thể trong cộng đồng quốc gia. Tổng Thống Diệm cũng suy luận như vậy nên ông ngần ngại không chịu ký. Ông Nhu vẫn lạnh lùng không có một ý kiến nào.
Tổng Thống Diệm bảo ông Thuần “Cho mời bà Nhu xem bà ấy có ý kiến nào không”.
Đã từ lâu Tổng Thống Diệm vẫn thường nói với bác sĩ Tuyến cùng mấy cộng sự viên thân cận: “Đàn bà họ kém về lý luận nhưng trực giác của họ thì hay lắm”. Riêng bà Nhu đã nhiều lần chứng tỏ bà có một trực giác bén nhạy. Khi bà Nhu vào văn phòng Tổng Thống xem bản thông cáo chung rồi nói:
- Như thế này đâu có được, Tổng Thống làm sao lại ký ngang hàng với ông cụ ấy được (tức Hòa thương Khiết).
Bà Nhu lắc đầu có vẻ chê bai rồi nói:
- Nếu mai một phong trào Phụ nữ Liên đới có chuyện tranh chấp với Chính phủ đòi Chính phủ phải giải quyết nguyện vọng rồi thì Chính phủ cũng ra thông cáo chung rồi Tống thống cũng ký với tôi hay sao? Một quốc gia trong một quốc gia, không có được.
Tổng Thống Diệm vẫn ngần ngại không nói gì ông Thuần trình bày về sự khó khăn không biết Tổng Thống phải ký ở chỗ nào mà không ký cũng không được, Tổng Thống Diệm hỏi bà Nhu:
- Vậy ý của bà thế nào?
Bà Nhu đáp ngay:
- Có gì đâu mà khó khăn. Ông cụ Tịnh Khiết ký như thế này rồi thì Tổng Thống ký ở ngoài lề như là bút phê vậy.
Tổng Thống Diệm cho là phải và đồng ý ngay.
Ông Tổng Thống cầm bút phê phía ngoài lề bản thông cáo: Những điều ghi trong bản thông cáo chung này đã được tôi chấp thuận trên nguyên tắc ngay lúc đầu dưới hàng chữ này, ký tên: Ngô Đình Diệm.
Bản thông cáo chung vẫn không gây được sự chú ý đặc biệt của dư luận. Nhưng chính quyền Mỹ thì hoan hỉ cho rằng, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và Phật giáo đã đạt được sự thỏa hiệp, cuộc khủng hoảng có thể sớm giải quyết.
Nhưng ngay chiều 16-6, hơn 100 tăng ni trong đó có Thượng tọa Tâm Châu đã biểu tình trước tư dinh Đại sứ Mỹ để yêu cầu chính quyền Mỹ và các nước khối tự do phải dùng áp lực thuyết phục chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thực thi đứng đắn bản thông cáo chung. Cũng vào ngày đó, lúc 19g20 thì bản thông cáo chung vẫn nằm trên bàn Tổng Thống Diệm. Sau cuộc biểu tình, một số tăng ni lại kéo nhau về chùa Xá Lợi mở đầu cuộc tuyệt thực.
Mỗi lần biểu tình tuyệt thực như vậy lại cung cấp thêm cho báo chí ngoại quốc những đề tài hấp dẫn mới lạ. Bản thông cáo chung không còn là đề tài hấp dẫn đối với báo chí ngoại quốc.
Cuộc khủng hoảng Phật giáo trở thành vấn đề số một đối với Tổng Thống Kennedy cho nên trong những ngày 13, 14, 15 và sáng 16 Phó đại sứ Mỹ liên tiếp ra vào dinh Gia Long. Ký giả David Halbeitam viết: “Dưới áp lực đáng kể của Mỹ, Chính phủ đã cùng Phật giáo thương thuyết về năm điểm. Ngày 16-6 hai bên đã ký một bản thông cáo chung nhưng Chính phủ không nhìn nhận một cách có trách nhiệm về biến cố Huế”. Tầm nhìn của ký giả Mỹ như vậy nếu không có ý xuyên tạc thì cũng không nắm vững tinh thần văn bản, nhưng dư luận Mỹ lại luôn luôn bị khích động và hướng dẫn bởi báo chí mà báo chí Mỹ được coi như một tập thể tạo áp lực (pressuare group) đối với chính phủ và Quốc hội Mỹ. Thực ra, điều 5 của bản thông cáo chung đã ghi rõ. “Những cán bộ có trách nhiệm về các vụ xảy ra ngày 8-5-1963 bất kỳ thuộc thành phần nào cũng sẽ bị nghiêm trị nếu cuộc điều tra đang tiến hành chứng tỏ lỗi của họ”. Dư luận Mỹ trong những ngày 13, 14 đến 15 đều đổ dồn vào vụ tự thiêu của Hòa thượng Quảng Đức cùng các vụ xô xát vào ngày 16 và cuộc biểu tình của tăng ni vào chiều tối 16. Báo chí Mỹ như tờ New York Times, New York Herald Tribune, Chirstian Seience Monitor phát hành tại Mỹ vào hôrn trước thì chỉ vài ngày sau đã lọt vào tay mấy Thượng tọa, Đại đức của Ủy ban Liên phái và được dịch ra ngay Việt ngữ rồi quay ronéo phổ biến bí mật trong đô thành. Đây cũng là một động cơ thúc đẩy đám đông như từng cục than hồng.
Tháng 5-1960 những nhân vật cận thân của Tổng Thống Diệm cũng đã hội lại để đồng thanh yêu cầu Tổng Thống Diệm duyệt xét lại chế độ. Nhưng kết quả chỉ là chuỗi ngày im lặng rồi mọi việc lại trôi qua. Cũng nên nhắc lại tháng 5-1960, Đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc Nha An ninh quân đội (người theo Tổng Thống Diệm từ năm 18 tuổi và trở thành cán bộ giao liên giữa Hoàng thân Trang Liệt và Tổng Thống Diệm) đã cùng cha Thính, ông Võ văn Hải, ông Tôn Thất Trạch cùng một số “người” khác đã họp bàn và dự định đồng loạt từ chức để Tổng Thống Diệm lưu ý duyệt xét lại những sai lầm của chế độ. Đại tá Đỗ Mậu cũng như Võ văn Hải, Tôn Thất Trạch đều là những người theo phò Tổng Thống Diệm từ tiền chiến cũng như sau vụ đảo chính hụt 11-11-1960, chính những nhân vật quan trọng của chế độ Ngô Đình Diệm cũng đã thỉnh cầu Tổng Thống Diệm cũng như ông Nhu là nên nới rộng thể chế dân chủ, chấp nhận mọi lực lượng quốc gia đối lập, nhưng đều vô hiệu.
Chỉ một lá thư của bác sĩ Tuyến gửi riêng cho ông Nhu phê bình một số sai lầm của chế độ và cái áo dài của bà Nhu, không những không được lưu ý mà bị gạt ra ngoài… Vì lá thư ông Nhu để ngỏ trên bàn làm việc và bà Nhu đã được coi. Có lẽ đó cũng là cách ông Nhu gián tiếp cho vợ thấy rõ những nhận định của người cộng sự thân tín. Tuy nhiên bà Nhu không phản ứng gì nhưng dần dần lạnh nhạt với vợ chồng bác sĩ Tuyến.
Từ một vấn đề nhân sự nhỏ bé như vậy cũng đã chứng tỏ chế độ càng ngày càng phân hoá. Phe nhóm tuy chưa công khai xuất hiện nhưng âm thầm công kích và nghi ngờ lẫn nhau. Ngay trong lòng chế độ mà chưa phân biệt ai là bạn ai là thù thì tránh chi người ngoài!
Kể từ tháng 6-1963 những thành phần cột trụ của chế độ không keo sơn gắn bó với chế độ nữa. Từ những nhân vật cột trụ đều âm thầm cảm thấy chế độ lâm nguy nếu không kịp thời tìm biện pháp cứu chữa thì vô phương. Nhưng họ không còn thẩm quyền. Thế lực của vợ chồng ông Nhu ngày càng lớn dần.
Tổng Thống Diệm ngày càng cô đơn nhất là sau cái chết của nhà văn Nhất Linh thì hầu như Tổng Thống Diệm buông tay. Vụ mưu sát Tổng Thống Diệm ngay trong dinh Gia Long lại làm cho ông cô đơn hơn nữa. Có nhẽ đó cũng là lý do khiến Tổng Thống Diệm quyết định trở về hưu dưỡng khi nhiệm kỳ II chấm dứt.
Trong vụ tranh đấu Phật giáo không rõ từ phái nào chủ trương mưu sát Tổng Thống Diệm và họ đã móc nối được với viên Chuẩn úy hướng dẫn và nghi lễ văn phòng Tổng Thống Viên sĩ quan này đã phục vụ lâu năm trong dinh Gia Long và trực thuộc Lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng Thống Nhiệm vụ của ông ta không có gì quan trọng nhưng lại là người dễ dàng thi hành mưu đồ ám sát Tổng Thống Hàng ngày viên chuẩn úy hướng dẫn, mũ áo đại lễ chỉ có nhiệm vụ hướng dẫn quan khách đến văn phòng Tổng Thống Ông ta cũng như các sĩ quan tùy viên và hầu cận hàng ngày đều giáp mặt Tổng Thống Diệm. Tất nhiên là họ thuộc thành phần được tin cẩn. Tổng Thống Diệm vẫn tự hào về sự trung thành tuyệt đối của các quân nhân lo việc an ninh cho ông.
Đặc biệt những sĩ quan hầu cận như Lê Công Hoàn, Đỗ Thọ, Huỳnh văn Lạc, Lê Châu Lộc, ông Tổng Thống coi như con cái trong nhà. Ấy vậy mà lại có một sĩ quan hướng dẫn âm mưu giết hại ông và vợ chồng ông Nhu. Âm mưu này được phát giác như một sự tình cờ.
Số là trong cuộc tranh đấu của Phật giáo đang sôi động thì thân phụ của Trung úy Kiệt bị bắt giam (ông là một đại diện của phe Phật giáo tỉnh Gia Định). Trung úy Kiệt là một sĩ quan truyền tin cũng là một trong số những quân nhân trung thành tuyệt đối của Tổng Thống Diệm. Khi thân phụ của ông bị bắt giam vì lý do tranh đấu Phật giáo thì kẻ chủ mưu ám sát Tổng Thống Diệm đã nắm ngay cơ hội này để móc nối. Nhưng sự việc xảy ra lại khác, nên âm mưu này đã bất thành. Khi thân phụ Trung úy Kiệt bị bắt ông đã trình bày ngay với Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ, Tham mưu trưởng Lữ đoàn, ông Duệ trình bày thẳng với Trung tá Khôi Tư lệnh và cho rằng: “Kiệt nó là một sĩ quan phục vụ đắc lực như vậy bây giờ công an lại bắt ông già nó thì còn ra cái gì, xin Trung tá can thiệp gấp”. Sau đó, Trung tá Khôi cũng như Thiếu tá Duệ liên lạc thẳng với ty Công an Gia Định và Đại tá Nguyễn văn Y, Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia. Hai cơ quan này đều đồng ý trả tự do ngay.
Về những tin đồn mưu sát Tổng Thống Ngô Đình Diêm thì nhiều lắm, song phần lớn đều là tin vịt. Phía ông Nhu thỉnh thoảng cũng bắn ra vài tin như vậy với chủ ý thăm dò phản ứng của dân chúng hoặc để tìm các “con mồi” đối lập như vụ mưu sát được dấu kín sau ngày 1-11-1963 viên Chuẩn úy được tự do ông ta mới tiết lộ. Ngay những nhân vật cao cấp tại dinh Gia Long cũng không hay biết gì cả.
Khi thân phụ của Trung úy Kiệt đang được Thiếu tá Duệ và Trung tá Khôi can thiệp để được trả tự do thì viên sĩ quan hướng dẫn lại tìm đến Trung úy Kiệt, sau khi tác động tinh thần về công cuộc tranh đấu của Phật giáo, viên sĩ quan ngỏ lời yêu cầu Trung úy Kiệt tham dự cuộc mưu sát mà ông ta đã bố trí từ lâu. Trung úy Kiệt tiết lộ: Một lần viên sĩ quan hướng dẫn đã thủ sẵn trái lựu đạn trong người và định ra tay thanh toán, song lần ấy lại chỉ có Tổng Thống Diệm mà lại không có vợ chồng ông Nhu nên kẻ mưu sát đành chờ cơ hội khác, nghĩa là khi nào có mặt đầy dủ, vợ chồng ông Nhu và Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì lúc ấy mới hành động.
Trung úy Kiệt là một sĩ quan tin cẩn của Lữ đoàn Liên binh phòng vệ nên ông đã đem ngay câu chuyện mưu sát này báo cáo với Thiếu tá Duệ. Sau cuộc họp mật với Tư lệnh lữ đoàn, ông Duệ ra lệnh giam lỏng ngay viên Chuẩn úy hướng dẫn. Công việc diễn tiến hoàn toàn kín. Thiếu tá Duệ trình bày với Trung tá Khôi: “Nếu tin nầy tiết lộ ra ngoài thì mất hết uy tín của lữ đoàn. Lữ đoàn từ lâu vẫn có tiếng là trung thành tuyệt đối với Tổng Thống nay lại có một sĩ quan ở ngay trong dinh định mưu đồ như vậy thì nguy, tin này nếu tiết lộ ra ngoài sẽ làm hoang mang lữ đoàn”. Trung tá Khôi cũng đồng ý như vậy. Ngay buổi chiều hôm ấy Thiếu tá Duệ triệu tập một phiên họp các sĩ quan lữ đoàn và cho biết: “Hiện nay bên lực lượng đặc biệt, Đại tá Tung đang cần 1 sĩ quan liên lạc với lữ đoàn vậy anh em nào có thể tình nguyện sang bên đó làm việc?”
Trước khi lên tiếng như trên Thiếu tá Duệ đã dặn Đại úy Ngân, sĩ quan an ninh của lữ đoàn “Khi tôi lên tiếng Ngân phải đứng lên ngay và đề nghị Chuẩn úy Thành tức viên sĩ quan hướng dẫn”. Được dặn trước nên Đại úy Ngân giơ tay trả lời ngay: “Tôi xin đề nghị Chuẩn úy Thành, Chuẩn úy có đủ khả năng làm sĩ quan liên lạc cạnh lực lượng đặc biệt” Thiếu tá Duệ chấp nhận liền: “Được lắm thôi để Thành sang bên đó tôi sẽ xin một người khác làm sĩ quan hướng dẫn”. Một lát sau Thiếu tá Duệ bảo Đại úy Ngân: “Bây giờ hết giờ làm việc rồi, anh đưa ngay Thành qua lực lượng đặc biệt đi, không họ cứ hối thúc mình mãi”. Câu nói này là một mật lệnh bảo Đại úy Ngân đưa viên sĩ quan hướng dẫn qua lực lượng đặc biệt để giam ngay… Tự tay Đại úy Ngân lái xe chở viên sĩ quan vào Bộ Tư lệnh lực lượng đặc biệt, ông Duệ đã chỉ thị cho Đại úy Ngân “Tôi đã điện thoại qua bên ấy rồi. Anh dặn thêm bên ấy là phải đối xử với hắn như một sĩ quan, hơn nữa Cụ dặn (tức Tổng Thống Diệm không được “đụng chạm” gì tới hắn cả” Đại úy Ngân không quên mua tặng “người anh em” một tút thuốc Ruby.
Giới thân cận đều xác nhận rằng Tổng Thống Diệm mỗi ngày càng thêm cô đơn và ông trở thành người trơ trọi gần như buông tay để mặc ông Nhu nắm quyền chủ động. Có lẽ Tổng Thống Diệm đã bị ám ảnh bởi số mệnh. Ngoài ra cái thú nghe ca Huế và đàn tranh hoặc ngồi xem đánh cờ, nghiên cứu bản đồ vẽ tranh và làm thơ, ông Tổng Thống còn say mê món tử vi và địa lý. Tuy là một tín đồ Thiên Chúa giáo ông lại tin khoa địa lý. Ông gần như thuộc lòng “Cái đất đó có hàm rồng, mảnh đất kia hãm địa”. Chẳng hạn như dinh Độc Lập ông vẫn băn khoăn đầu rồng là dinh nhưng cái đuôi lại ở chỗ công trường chiến sĩ… bởi vậy có nhiều đề nghị phá đài chiến sĩ để để chứng tỏ bài phong phản thực (chống Pháp) và xây lại công viên tạo cho Tào Viện trưởng đại học có khuôn mặt tươi mát.
Ông Tổng Thống có vẻ thuận tay nhưng sau thì ông không chấp nhận vì dù sao cái đài chiến sĩ cũng có tác dụng đè cái đuôi con rống xuống. Tuy vậy không ai thấy ông Tổng Thống gọi thầy bói vào dinh. So với những năm trước thì năm 1963 Tổng Thống Diệm ít đi kinh lý. Nhưng sau cái chết của nhà văn Nhất Linh tuần nào Tổng Thống cũng lên Đà Lạt đi săn… Theo tùy viên Lê công Hoàn thì đúng ra ông Tổng Thống đi tìm một quên lãng phá tan niềm cô đơn. Theo như Đại tá Mậu thì giữa năm 1963 hai ông thầy Minh Lộc và Đa La đã tiên đoán Tổng Thống Diệm gặp đại nạn có thể mất mạng. Riêng Tổng Thống Diệm có nhẽ cũng linh cảm được cơn hoạn nạn của mệnh số đang đến với ông.
Xung quanh cái chết của một nhà văn
Cuộc đảo chính 11-11-1960 không phải chỉ có nhóm Vương văn Đông, Nguyễn Triệu Hồng nhưng còn vô số sĩ quan khác được coi là nòng cốt của chế độ cũng trở cờ đón gió hoặc án binh bất động chờ thời cơ. Ngay Sư đoàn 7 đóng tại Biên Hòa, kế cận thủ đô từ phút đầu vẫn giữ thái độ “án binh bất động”. Sau đó, Trung đoàn 12 nóng ruột mới kéo quân về Sài Gòn. Sư đoàn 22 mà vị Tư lệnh được coi là “người trong nhà” của chế độ cũng do dự. Đúng hơn là hoàn toàn im lặng chờ lệnh thượng cấp. Ngay tại Sài Gòn, nhiều tướng tá cũng im lặng chờ cơ hội.
Cuộc đảo chính bất thành, nhiều người lanh chân lẹ miệng lại được thưởng, trái lại một số sĩ quan gặp tai bay vạ gió hết sức oan ức. Trường hợp Trung tá Nguyễn Khương, chỉ huy trưởng truyền tin, suốt ngày 11 sáng 12 trốn thật kỹ nhưng khi quân Đại tá Trần Thiện Khiêm tiến vào thành phố thì lúc bấy giờ Trung tá Nguyễn Khương mới lộ diện, rồi còn lập công bằng cách cho một tiểu đoàn truyền tin ra tay chống đảo chính vào ngày 13 (nghĩa là tàn cuộc rồi chính ông lại chặn xe Đại tướng Lê văn Tỵ không cho vào dinh gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm). Thực ra thì ngày 12 Trung tá Khương cho người móc nối phe đảo chính bất thành, ông trở thành người chống đảo chính hung hăng nhất (nhiều tướng tá khác tương tự như Trung tá Khương). Trong khi đó nhiều người bị tố cáo rất oan ức. Chẳng hạn như Thiếu tá Liên đoàn trưởng truyền tin thuộc Bộ Tư lệnh Hành quân.
Một Đại úy chỉ huy trưởng một đơn vị biệt lập tại ven đô, không có tội gì chỉ có tội “vô tình xóa khẩu hiệu suy tôn Ngô Tổng Thống” nhưng bị phạt 40 ngày trọng cấm. Số là như thế này, bức tường ở doanh trại kẻ khẩu hiệu “Ngô Tổng Thống muôn năm”, lâu ngày bị nước mưa làm ố nhòe trông rất lem nhem, viên Đại úy sốt sắng ra lệnh cho thượng sĩ thường vụ phải cho lính quét lại tường vôi và kẻ lại khẩu hiệu cho đàng hoàng. Nhưng không may tường quét vôi trắng xóa, xóa nhòa khẩu hiệu vào ngày 10, thì đúng ngày 11 xảy ra đảo chính. Ấy vậy mà Bộ Tổng tham mưu vẫn phổ biến một văn thư đi khắp các đơn vị về việc phạt viên Đại úy này 40 ngày trọng cấm với lý do nêu trên.
Ở nhiều đơn vị, một số sĩ quan bị câu lưu, bị điều tra hoặc thuyên chuyển chỉ vì phát ngôn bừa bãi trong ngày 11-11.
Về phương diện hành quân đảo chính thì phải nói là hoàn hảo, nhưng ai cũng công nhận thấy rằng, cuộc đảo chính đó bị một số chính khách thoạt đầu đón gió và làm mất đi nhiều ý nghĩa Quốc gia nhân chính và tiềm ẩn khát vọng cách mạng thực sự của một số sĩ quan trẻ, tham dự với tất cả hăng say. Số chính khách này, gọi là chính khách cũng chưa được đúng lắm đứng đầu là Hoàng Cơ Thụy theo sau là Phan Quang Đán, có cả Nhất Linh.
Trở lại trường hợp Trung tá Nguyễn Khương, trọn ngày 11 và 12, Trung tá Khương trốn chui trốn lủi lại tìm cách móc nối với Đại tá Thi tối 12, Nguyễn Khương mặc thường phục lên Catinat quan sát tình hình. Lúc ấy phe Chính phủ đã thắng thế, Trung tá Khương cấp tốc về Bộ Tư lệnh huy động lực lượng truyền tin rồi trao cho Đại úy Đỗ Như Luận “thống xuất” tiến vào Bộ Tổng tham mưu (sáng 13) để gọi là giải vây nhưng kỷ thực lúc ấy Bộ Tổng tham mưu không còn một lực lượng nhảy dù nào… Nhưng Trung tá Khương vẫn coi như ta là người hùng chống đảo chính, rồi lại “hộ tống” Đại tướng Lê văn Tỵ vào Dinh lập công với Tổng Thống
Sau đó, Nguyễn Khương lại lập báo cáo xuyên tạc Thiếu tá Nguyễn Đình Tài, Chỉ huy trưởng trung tâm truyền tin thuộc Bộ Tư lệnh Hành quân. Trong bản báo cáo Trung tá Nguyễn Khương cho rằng Thiếu tá Tài đã tiếp tay cho phe đảo chính, rằng khi quân đảo chính chiếm được Đài phát thanh thì Thiếu tá Tài có ý ngăn cản không cho Trung tá Khương xử dụng chiếc máy phát tin cao xuất để thay đài phát thanh.
Dinh Tổng Thống từ phút đầu ngày 11 đã trao cho Khương mật lệnh để liên lạc với Trung tá Huỳnh văn Cao nhưng Trung tá Khương đã không chuyển mật lệnh này.
Hơn một tháng sau thì dinh Tổng Thống cũng rõ lòng dạ của Khương và Khương bị thất sủng từ đó.
Trong hai ngày 11 và 12, một số các nhân vật tai to mặt lớn đều lẩn mặt nhưng trong ngày 13 đồng loạt xuất hiện, tranh nhau nhảy vào ban chống đảo chính để lập công rồi cố làm sao diện kiến được Tổng Thống Một người có công thực sự là Võ văn Hải. Trong việc dàn xếp với phe đảo chính, đều một tay ông Hải lo toan, thế nhưng sau đó lại bị nghi kỵ, bị các phe nhóm dèm pha là Võ văn Hải đi nước đôi. Ngày 11-12 bác sĩ Tuyến cùng một và số cộng sự viên lập “bộ chỉ huy” tại nhà Huỳnh Thành Vị.
Tại đây bác sĩ Tuyến trực tiếp liên lạc với Đại úy Bằng cùng một số đơn vị lớn trong đó có sư đoàn 21 bộ binh. Theo bác sĩ Tuyến thì người có công lớn trong vụ 11-11-1960 trước hết phải kể đến bà Ngô Đình Nhu và sau nữa là Đại úy Bằng, một tay kiên trì chống đỡ phe đảo chính mà lực lượng không hơn một đại đội.
Nhưng Tổng Thống Diệm lại bị huyền hoặc bởi một số người cơ hội, chuyên môn “bốc”, thành ra người có công thì không được lưu ý hoặc bị phe phái khai thác dèm pha, có tội khi khéo chạy tội lại trở thành người có công. Đám người này tìm mọi cách để đẹp lòng ông Tổng Thống và để ông Tổng Thống yên trí rằng “Dân chúng luôn luôn trung thành và ủng hộ Tổng Thống”. Kỳ thực dân chúng lúc ấy cũng bắt đầu bất mãn trước những sự lạm dụng và hống hách của những nhân vật được coi là lương đống của chế độ. Đáng lý nhân cơ hội này, Tổng Thống Diệm phải làm một cuộc xét lại những sai lầm của chế độ và nếu cần phải thanh trừng những thành phần bất lực, tham nhũng, nịnh bợ, nhưng Tổng Thống Diệm không làm như thế… Rồi kế tiếp đến vụ bỏ bom dinh Độc Lập ngày 27-2-1962 chế độ Ngô Đình Diệm bắt đầu sa sút trông thấy, nội bộ càng thêm phân hóa. Vụ 11-1960 thì một số phe phái gièm pha ông Võ văn Hải, vụ 27-2-1962 ông Tổng Thống cũng lại nghi ngờ bác sĩ Tuyến. Vụ Phật giáo năm 1963, kể từ tháng 5, Tổng Thống Diệm lại không tin ông Cẩn nốt. Chế độ đang lúc phân hóa, đầy mâu thuẫn nội bộ, lại phải đương đầu với áp lực Mỹ và vụ tranh đấu của Phật giáo. Với một tình hình rối ren như vậy đáng lý ra phải xếp vụ án 11-11-1960 lại nhưng không hiểu sao, Tổng Thống Diệm lại cho đem xét xử. Cái chết của Nhất Linh là một bất lợi lớn lao cho vụ án.
Chánh án Huỳnh Hiệp Thành được chỉ định làm chánh thẩm. Trung tá Quân pháp Lê Nguyên Phu ngồi ghế ủy viên Chính phủ. Sau năm l963, Trung tá Lê Nguyên Phu bị công kích dữ dội, bị kết án là tay sai của chính quyền Ngô Đình Diệm đã hạ nhục sỉ vả các chính khách quốc gia. Điều công kích đó có đúng không hay chỉ là phản ứng nhất thời do tự ái bồng bột của người bị kết án?
Theo giới thẩm phán thuộc Nha quân pháp (trước 1963) và giới hiến binh thì Trung tá Lê Nguyên Phu người thay thế Trung tá Nguyễn Quang Sanh chỉ huy lực lượng hiến binh, ông Phu có sự ngay thẳng, có lương tâm của một thẩm phán tốt, nhưng giao tiếp hơi vụng về, nói năng không được khéo léo. Đó cũng là một điểm thất bại của một ủy viên Chính phủ của một tòa án vốn được coi là công cụ của chính quyền. Giám đốc Nha Quân pháp lúc ấy là Đại tá Nguyễn văn Mầu. Trung tá Phu nắm quyền Giám đốc phân Nha Hiến bình kiêm Ủy viên Chính phủ Tòa án quân sự đặc biệt. Trung tá Lê Nguyên Phu được Phủ Tổng Thống chỉ thị đem gấp vụ 11-11-1960 ra xét xử. Một vụ án thật rắc rối. Khi nhận chỉ thị, Trung tá Lê Nguyên Phu đã thấy rõ nhưng khó khăn này.
Trên mặt pháp lý, đưa vụ 11-11-1960 ra xét xử tại tòa án quân sự là đúng, vì thủ phạm cũng như các tòng phạm đều là quân nhân tại ngũ và chứng cứ phạm pháp rất hiển nhiên (sử dụng quân lực để lật đổ chế độ đương nhiệm và hợp pháp). Lý thì như vậy mà tình lại khác. Nhiệm vụ của thẩm phán chỉ dựa theo lý dù là cái lý của chính quyền nhưng vẫn là cái lý của luật pháp hiện hành. Trung tá Lê Nguyên Phu được Tổng Thống Diệm chỉ thị đến gặp bác sĩ Tuyến để tìm hiểu rõ đầu đuôi nội vụ (lúc ấy bác sĩ Tuyến không làm việc ở Sở nghiên cứu chính trị). Với tình hình đang sôi động như vậy từ Bộ trưởng Thuần đến bác sĩ Tuyến đều cảm thấy gian nan nhưng ai là người có thể cản ngăn khi Tổng Thống Diệm đã quyết định như vậy?
Vấn đề khó khăn nhất đối với Trung tá Phu là Tổng Thống Diệm chỉ định: “Anh phải lấy cho tôi hai cái án tử hình”. Ông chỉ thị vắn tắt như vậy thôi mà không nói kết tội tử hình cho ai. Trước mặt Tổng Thống Diệm ngay cả Phó Tổng Thống, Bộ trưởng, tướng lãnh còn vâng lời tuân theo răm rắp huống chi một Trung tá. Ông Lê Nguyên Phu đem vấn đề này hội ý với bác sĩ Trần Kim Tuyến. Vụ án làm cho ông Phu muốn điên đầu. Ai ở vào địa vị ông Phu cũng không thể làm sao hơn! Trung tá Phu nghiên cứu hồ sơ cả mấy ngày… chỉ thị của Phủ Tổng Thống là làm sao phải lấy hai án tử hình để làm gương. Có nhẽ Tổng Thống Diệm coi đó như một cách để biểu dương uy quyền và sự cứng rắn của chính quyền? Trung tá Phu lo lắng nói với bác sĩ Tuyến: “Theo lương tâm thẩm phán sau khi cứu xét kỹ hồ sơ thì không thấy ai trong vụ án đáng lãnh án tử hình cả”. Nhưng lệnh của Tổng Thống bây giờ làm thế nào. Trước sự khó khăn nan giải này, bác sĩ Tuyến và Trung tá Phu đã đi đến một giải pháp: “Tìm trong số những người đào tẩu như Vương văn Đông, Nguyễn Chánh Thi, Hoàng Cơ Thụy để buộc tội thật nặng quy hết trách nhiệm cho những người này và làm thế nào để tòa án kết án tử hình họ, có như thế mới có thể cứu nổi những người đang bị giam giữ”. Trung tá Phu coi giải pháp này như một giải pháp tốt đẹp cho chính ông ở tư thế một Ủy viên Chính phủ (cái nghề chỉ có buộc tội ít khi xin tòa dễ dãi cho các bị can). Ông Phu cho đó như một lối thoát tốt đẹp bởi vì ông vẫn lo lắng tâm sự với bác sĩ Tuyến “Nếu không khéo tòa lại xử một bị can nào tử hình thì tôi chẳng biết phải làm thế nào, lương tâm thật không cho phép”. Thường tình các vị chánh án của Tòa án quân sự đặc biệt hay mặt trận có “thói quen” xét xử bị can theo lời buộc tội của Ủy viên Chính phủ, một khi Ủy viên Chính phủ đại diện thật sự cho hành pháp mà lại Hành pháp trước năm 1963, nếu “cảm thấy” Ủy viên Chính phủ muốn bị can X bị can Y bao nhiêu năm tù, tử hình hay khổ sai thì thông thường các vị chánh án cũng sẽ tuyên xử như vậy, một là để lấy lòng Tổng Thống hai là quá nhát sợ hoặc muốn tránh khỏi sự phiền nhiễu lôi thôi.
Khi đem vụ 11-11-1960 ra xử, Trung tá Phu cũng như bác sĩ Tuyến và Bộ trưởng Thuần đều phập phồng lo sợ “mật lệnh hai án tử hình” Biết đâu trong lúc cao hứng hoặc thiếu quân bình hoặc quá sốt sắng với chế độ vị chánh thẩm lại xử Phan Trọng Chinh hoặc cụ Phan Khắc Sửu hay một vài bị can nào khác bị tử hình thì lúc ấy sẽ ra sao? Trong tình hình đầy biến động và bất thường như trạng thái tâm lý chính trị bất thường năm 1963 biết đâu vì một lý do bất thường nào đó chính quyền ra lệnh thi hành án tử hình ngay thì lúc đó quả thực lương tâm của một người bình thường cũng không thể yên ổn được. Do đó, sau nhiều lần hội ý cùng nhau, Trung tá Phu đã đi đến giải pháp là trong lời buộc tội sẽ đánh mạnh vào điểm là các bị can đều tòng phạm, a dua.
Tóm tắt lại, trước khi đưa ra tòa xét xử vụ 11-11-1960, Tòa án Quân sự đã có sự bố trí cẩn thận để làm thế nào giảm thiểu hình phạt đối với tòng phạm và lấy án tử hình dành cho các chính phạm. Tổng Thống Diệm không ra chỉ thị xử tử hình đích danh ai cho nên đó là điều dễ dàng cho Ủy viên Chính phủ có thể nhằm vào Nguyễn Chánh Thi cũng như Hoàng Cơ Thụy, Vương văn Đông.
Vụ án đem ra xem xét trong một khung cảnh hoàn toàn bất lợi cho chính quyền. Nói là hoàn toàn vì trong một cuộc tranh đấu chính trị thì pháp luật chỉ có thể là khí giới giúp chính quyền có cái để nhân đanh áp đảo đối phương.
Đằng này pháp luật được sử dụng không hợp với thời gian và không gian nên không tạo được hiệu lực, trái lại vụ án 11-11-1960 lại trở thành khí giới của phe chống Chính phủ.
Thất bại lớn của chính quyền Ngô Đình Diệm là đem vụ này ra xét xử. Một lần nữa chính quyền lại đổ cả thùng dầu vào ngọn lửa tranh đấu của Phật giáo, mà ngọn lửa đang leo lét… ngay các nhà lãnh đạo Phật giáo đang hoang mang không biết làm thế nào cho ngọn lửa bùng to.
Dù Phật giáo đã có một danh sách tự thiêu nhưng vẫn chưa thể áp dụng. Bởi vì dù ai tự thiêu đi nữa cũng không thể tạo được xúc động như vụ tự thiêu của Hòa thượng Quảng Đức. Bỗng nhiên, vụ án 11-11-1960 cùng với cái chết của Nhất Linh đã cung hiến cho Ủy ban Liên phái một cơ hội tốt nhất.
Trong phiên tòa xử ngày 5-7-1963 kéo dài đến ngày 12 (với 19 quân nhân và 34 nhân sĩ), qua lời buộc tội, Trung tá Lê Nguyên Phu cho rằng các nhân sĩ này chỉ “a dua chạy theo đón gió”.
Khi Nhất Linh nằm yên trong lòng đất thì vụ án 11-11-1960 cũng hoàn tất. Hai án tử hình mà Tổng Thống Diệm đòi hỏi vẫn chỉ dành riêng cho chính phạm. Cháy nhà mới ra mặt chuột… Câu phương ngôn này quả thực không sai khi nhận định về bản chất thực của một số nhân sĩ trong vụ án, các quân nhân trẻ tuổi như Phan Trọng Chinh, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Vũ, Từ Thức… đã chứng tỏ được phong độ đường hoàng và khí phách khi ở trong tù cũng như trước tòa. Ngược lại một số nhân sĩ tự nhận có thành tích cách mạng thì quả là yếu kém về đường nhân cách. Nhất cử nhất động của mấy vị này đều không qua khỏi con mắt của mấy tay an ninh chìm rồi cuối cùng cũng lọt vào tai vợ chồng ông Nhu và Tổng Thống Diệm.
Ngày 13-7 là ngày đưa đám tang Nhất Linh từ bệnh viện Đồn Đất qua chùa Xá Lợi rồi trở về nơi yên nghỉ ngàn thu tại nghĩa trang Bắc Việt. Nhưng đó cũng là ngày sôi động và bận rộn cho các cơ quan an ninh chìm nổi của Đô thành và Tổng Nha cảnh sát. Ngày 13-7 cũng là ngày đánh dấu một khúc quanh lớn trong cuộc tranh đấu của Phật giáo. Hàng ngàn sinh viên thuộc nhiều phân khoa đại học đã tự động đến chùa Xá Lợi đón linh cữu Nhất Linh. Rất nhiều sinh viên đeo băng đen. Đám tang Hòa thượng Quảng Đức cũng không đông đảo như đám tang Nhất Linh và hầu hết đều thuộc giới Phật tử.
Đám tang Nhất Linh thì lại khác, quy tụ nhiều thành phần Công giáo, Phật giáo. Tuy nhiên phía Phật giáo, một số lãnh đạo trẻ khéo lanh lợi biến đám tang này thành mầu sắc tôn giáo. Cuối cùng Nhất Linh được an táng cùng Đảng kỳ của Việt Nam Quốc dân Đảng.
Từ đây giới sinh viên Sài Gòn mới thực sự dấn mình vào cuộc tranh đấu… Một số sinh viên trẻ thuộc thành phần đảng phái cũng muốn lợi dụng chiêu bài Phật giáo với hy vọng tiến xa hơn, mạnh hơn nghĩa là đạt được một cuộc cách mạng, dù họ chưa biết cuộc cách mạng ấy như thế nào. Phái Phật giáo nếu chỉ có lực lượng Phật tử cũng chưa đủ, nên đã tìm mọi cách lôi cuốn sinh viên học sinh tham gia.
Khi Mỹ quyết tâm nhảy vào cuộc
Biến cố dồn dập và bao trùm… Tổng Thống Diệm càng ngày càng thúc thủ trong những mâu thuẫn nội bộ mâu thuẫn Mỹ-Việt… mâu thuẫn anh em. Kể từ trung tuần tháng 7-1963 thì người Mỹ cũng như về phía Cộng sản đã thực sự nhảy vào cuộc cố giành phần chủ động biến cố. Trong khi quyết tranh đấu cho mục tiêu cao đẹp của tập thể mình thì trong lòng Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo đã nứt rạn… chính sự nứt rạn đó nói lên sự xâm nhập của những thế lực ngoại lai.
Cuộc tranh đấu của Phật giáo lại bắt đầu bừng dậy vào ngày 17-7. Trước đó Ủy ban Liên phái liên tiếp nhận được những nguồn tin cho biết là chính quyền sẽ áp dụng biện pháp mạnh.
Đồng thời cũng vào thời gian này, dư luận lại đồn đại sắp đảo chính. Phía Ủy ban Liên phái đã khai thác triệt để nguồn tin đảo chính. Hơn nữa Ủy ban Liên phái lại nắm được những nhược điểm của chính quyền là sự phân hóa và mâu thuẫn trầm trọng ngay từ phía anh em Tổng Thống Diệm. Ngoài miền Trung, ông Cẩn chỉ còn là hư vị.. Tại Sài Gòn quyền bính nằm trọn trong tay ông Nhu và chính là lúc ông Nhu đang đang chuyển hướng để tìm thế liên minh mới.
Nhân chuyến trở lại thăm Việt Nam cha Francois xin gặp riêng ông Nhu để nhờ cậy một vài việc riêng đây cũng là dịp mà cha Francois ghé qua thăm Đại sứ Ân tại Ủy hội quốc tế. Lần gặp gỡ này, cha Francois thấy ông Nhu già đi rất nhiều, mỏi mệt và chán nản. Ông Nhu hỏi thăm cha Francois: “Cha thấy dư luận của Pháp và La Mã như thế nào đối với Việt Nam Cộng Hòa?”.
Cha Francois dè dặt: “Có nhiều dư luận trái ngược nhau nhưng nói chung thì báo chí Tây phương tỏ ra phẫn nộ… không thuận lợi cho Chính phủ Việt Nam… Hiện ông Cố vấn đã có biện pháp như thế nào đối với vụ tranh đấu của Phật giáo?”
Ngô Đình Nhu yên lặng một lúc lâu. Ông bẻ đôi điếu thuốc Job hút một nửa, một nửa cho vào ngăn kéo bàn, ông Nhu “tặc lưỡi”:
- “Chính phủ đã xử rất ôn hòa, bây giờ thì không có chuyện nhượng bộ nữa”.
Cha Francois lo ngại: “Ông Cố vấn nói như vậy có nghĩa là Chính phủ sẽ sử dụng biện pháp mạnh để dẹp cho yên?”
Ông Nhu đáp: “Thưa cha không còn sự lựa chọn nào khác hõn”.
Cha Francois.: “Nếu nhý vậy sẽ vô cùng nguy hiểm. Ðây là vấn ðề tế nhị, tôi nghĩ Chính phủ Việt Nam cần kiên nhẫn hõn nữa”.
Ông Nhu lắc ðầu: “Chỉ còn có hai cách lựa chọn: Một là tình trạng rối loạn sẽ kéo dài và Chính phủ sẽ đổ một nửa, phải vãn hồi an ninh trật tự và Chính phủ sẽ chịu một số thiệt thòi đổ vỡ”. Ông Nhu cho cha Francois biết: “Trong một tháng nay, Việt cộng xâm nhập ào ạt vào các đô thị. Nếu Chính phủ không áp dụng biện pháp mạnh thì một buổi sáng nào đó cha sẽ thấy Sài Gòn tràn ngập cờ đỏ sao vàng”.
Cha Francois hỏi ông Nhu: “Như vậy có nghĩa là cuộc tranh đấu của Phật giáo đã bị cán bộ Cộng sản thuyết phục?”
Ông Nhu đáp: “Đúng, cơ quan an ninh đã thâu lượm được rất nhiều bằng chứng”.
Cha Francois dè dặt: “Thưa ông Cố vấn, tôi vẫn nghĩ các Thượng tọa đều là những nhà tu hành thuần túy. Như ông Mai Thọ Truyền, tôi có dịp gặp ông nhiều lần… Ông làm sao có thể để cho Cộng sản mua chuộc được?”.
Ông Nhu nói như phân trần: “Thưa cha, tôi cũng nghĩ như cha vậy, nhưng phương thức đấu tranh của họ là những phương thức học được ở Cộng sản. Dù các nhà sư không phải là Cộng sản nhưng cán bộ nòng cột của họ là Cộng sản thì cũng không thể tha thứ được. Một là Chính phủ phải thua Cộng sản một cách nhục nhã, hai là phải ra tay đối phó. Tôi đã cân nhắc, Chính phủ phải đối phó vì cuộc rối loạn càng kéo dài càng bất lợi”
Qua giọng nói cương quyết của ông Nhu cha Francois thấy rằng không thể ai ngăn cản ông được và ông đã lựa chọn phương thức “Được ăn cả ngã về không”.
Ông Nhu nhấn mạnh với cha Francois: “Đứng sau phong trào Phật giáo không chỉ có Cộng sản, còn có người bạn Đồng minh của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa nữa. Họ muốn sử dụng phong trào này để đàn áp và “săng ta” với chúng tôi”.
Cha Francois nhìn ông Nhu dò xét rồi mỉm cười:
“Nước Pháp trước đây cũng chịu một áp lực như vậy và làm “săng ta” quá nhiều, nhưng theo tôi người Mỹ cũng cần Việt Nam chứ?”
Ông Nhu đáp: “Dĩ nhiên là như vậy nhưng Việt Nam cần họ nhiều hơn…”
Ông Nhu bỏ lửng câu nói, rít một hơi thuốc rồi đứng lên tìm một tập hồ sơ trao cho cha Francois: “Cha có thể xem qua một số hình ảnh này, cha sẽ thấy… Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa khổ tâm biết bao nhiêu…”
Ông Nhu chỉ vào một người Mỹ mặc áo sơ mi cụt tay: “Ông ta chỉ là nhân viên thường của cơ quan USAID nhưng là nhân viên quan trọng của CIA”. Ông Nhu lại chỉ vào người Mỹ thứ hai: “Ông ta là một mục sư, truớc đây hoạt động truyền giáo tại Dahlak, nhưng trở về Mỹ cách đây bốn năm và mới. trở qua Việt Nam với tư cách phóng viên…” ông Nhu chỉ một người Việt Nam có gương mặt trẻ khôi ngô, tuấn tú đội mũ “phớt” mặc âu phục, cổ hở… Ông Nhu hỏi: “Cha biết ai đây không?” Cha Francois chưa nhận ra thì ông Nhu nhún vai: “Ông ta là một nhà sư hiện đang ở chùa Xá Lợi”.
Cha Francois nhìn tấm hình có hai người Mỹ và người Việt (được ông Nhu gọi là nhà sư) Cha chỉ mỉm cười không nói vì không biết phải nói như thế nào. Cha Francois quen biết ông Nhu từ lâu nên hiểu rõ con người ông tuy thông minh xuất chúng nhưng cố chấp và có nhiều thiên kiến, cha Francois lại có rất nhiều mối liên hệ và thiện cảm với Hòa thượng Quảng Độ và bác sĩ Lê Đình Thám. Cha Francois tìm cách nói khéo với ông Nhu là cho đến lúc này, cha vẫn tin rằng các nhà sư không thể là Cộng sản cũng như không thể để Cộng sản lôi kéo.
Có lẽ không thuyết phục được Cha Francois về lập trường cứng rắn của mình đối với Phật giáo nên ông Nhu lảng qua chuyện khác, lại chuyện người Mỹ, ông Nhu nói gay gắt: “Chúng tôi có nhiều kinh nghiệm với ngoại bang… người Mỹ dù có mạnh thế nào cũng không qua mắt nổi Chính phủ này. Tôi trả lời thẳng cho người Mỹ rõ, họ muôn rút hết cố vấn, cứ việc rút, cả viện trợ Mỹ chúng tôi cũng không cần, Mỹ có thể cúp viện trợ ngay lúc này Việt Nam Cộng Hòa vẫn đủ sức để chống Cộng”.
Cha Francois nghe giọng của ông Nhu như một người phẫn uất, sống chìm đắm chìm trong thế giới ảo tưởng. Cha Francois hỏi:
“Ông nghĩ thế nào về việc đề cử ông Cabot Lodge làm Đại sứ?”
Suy nghĩ một lát, ông Nhu đáp: “Cũng thế thôi nhưng Tổng Thống không có thiện cảm với ông ta vì ông ta có một quá khứ bất chính”.
Cha Francois hỏi: “Hình như Đức Hồng Y Spellman có khuyến cáo Tổng Thống nên mở rộng Chính phủ và chấp nhận đối lập?”
Ông Nhu gật đầu: “Điều đó có, Tổng Thống cũng đang cứu xét nhưng với một nước chậm tiến như Việt Nam Cộng Hòa không thể áp dụng một chế độ tự do dân chủ Tây phương… Như cha đã am tường lịch sử Việt Nam. Đất nước chúng tôi truyền thống dân chủ từ cả ngàn năm trước, dân chủ từ hạ tầng, từ xã ấp. Ở thượng tầng phải làm thế nào để giữ được uy quyền tối thượng của quốc gia… Thưa cha, ấp chiến lược chính là con đường xây dựng cơ sở dân chủ từ hạ tầng…”
Ông Nhu tâm sự với cha Francois: “Mỹ có thói quen bắt buộc các Đồng minh phải rập khuôn như họ… nhưng ở Mỹ khác, ở Á châu này khác… trong một quốc gia hòa bình thì hoàn toàn khác với một quốc gia đang có chiến tranh. Tổng Thống Kennedy khuyến cáo Việt Nam cải tổ cơ chế dân chủ có nghĩa là phỏng cơ chế dân chủ Mỹ. Nhưng cha nghĩ coi, ông cha chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm về nạn chia rẽ, nạn kỳ thị và phe phái… nếu ở Việt Nam áp dụng dân chủ như Mỹ thì chỉ đi đến tình trạng hỗn loạn”.
Cha Francois hỏi: “Hình như Tổng Thống Kennedy muốn miền Nam có sự canh tân Hiến pháp…?”
Ông Nhu mỉm cười đáp:
“Không chính thức khuyến cáo như vậy nhưng Washington gián tiếp muốn chúng tôi làm như vậy”.
Cha Francois: “Tôi có dịp gặp một vài nghị sĩ Mỹ như nghị sĩ Morse”.
Ông Nhu “à” một tiếng lớn và ngắt lời: “Tôi biết ông Morse, hắn chỉ là tên cao bồi say khói súng và chỉ là tên dô kề, nhưng phe hắn ta khá mạnh”. Ông Nhu hỏi cha Francois: “Cha thấy người Mỹ nhận định về chế độ này như thế nào?”.
Cha Francois đáp: “Hầu hết nguời Mỹ đứng đắn đều muốn Việt Nam Cộng Hòa không bị xáo trộn nhưng họ muốn một chế độ cởi mở”.
Ông Nhu gật đầu đáp: “Vâng họ đang lên án chúng tôi là độc tài cũng như trước đây họ đã lên án Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan và Lý Thừa Vãn… ở Hàn Quốc người Mỹ đã lầm lẫn giữa độc tài với sự bảo vệ uy quyền quốc gia tối thượng”. Ông Nhu ngừng một lúc lại tiếp tục phân trần: “Thưa chẳng hạn họ bảo chúng tôi là độc tài vì cho rằng không có Tối cao Pháp viện nên Hành chính điều khiển Tư pháp. Họ cũng kết án chúng tôi là độc tài vì cho rằng Quốc hội chỉ có một viện và do đó Quốc hội không kiểm soát được Hành pháp”.
Gặp ông Nhu, cha Francois càng tỏ ra thất vọng về tình hình đen tối tại miền Nam. Cuộc bất hòa Việt và Mỹ mỗi ngày càng thêm sâu xa và gần như không còn gì hàn gắn được. Cuộc tranh đấu Phật giáo mỗi ngày càng lan rộng, càng tăng cường độ. Cha Francois đi đến đâu cũng nghe thấy tin đồn đảo chính. Sau cuộc biểu tình lớn của Phật giáo ngày 17-7, ông Nhu đã đổi thái độ và quyết một là ăn thua… Ông đang dự trù một kế hoạch lớn.
Chiều thứ bảy ngày 22-7 Tổng Thống Diệm lên Đà Lạt nghỉ cuối tuần. Theo sĩ quan tùy viên Lê Công Hoàn, trong năm năm phục vụ bên cạnh ông Diệm, gần như không mấy khi Tổng Thống Diệm đi nghỉ xả hơi cuối tuần. Nhưng sau cái chết của nhà văn Nhất Linh và những biến chuyển dồn dập của tình hình Tổng Thống Diệm tuần nào cũng lên Đà Lạt đi săn, cưỡi ngựa. Trước khi đi Đà Lạt, Tổng Thống Diệm gọi ông Bộ trưởng Thuần vào văn phòng chỉ thị: “Ông và cụ Phó xem xét có điều chi chưa giải quyết thì giải quyết cho xong”. Khi Tổng Thống Diệm lên máy bay đi Đà Lạt, Thiếu tướng Tôn Thất Đính vào thành Cộng Hòa hội họp riêng với Trung tá Khôi, Tư lệnh lữ đoàn và Trung tá Chiêu Giám đốc Nha Thanh tra Dân vệ. Tướng Đính lúc ấy coi như người ruột thịt của chế độ và cột trụ của Quân ủy Đảng Cần lao. Cuộc hội họp này nhằm mục đích đối phó với phe tranh đấu của Phật giáo, với một sự hoàn toàn tán đồng và thúc đẩy của vị Tư lệnh Quân đoàn III. Trung tá Chiêu xúi giục một cuộc biểu tình của thương phế binh và quả phụ vào lúc 8 giờ sáng ngày 23-7. Đại đức Đức Nghiệp đã được mật báo là có một, số thương phế binh kéo đến “ăn vạ” tại chùa Xá Lợi. Ủy ban Liên phái cấp tốc bố trí đề phòng. Cũng chính vào giờ đó, sư bà Diệu Huệ, thân mẫu của Giáo sư Bửu Hội mở cuộc họp báo với sự hiện diện của sư bà Diệu Không (cả hai vị sư bà đều có con cháu trong hàng tướng tá và nhân vật lương đống của chế độ). Cuộc họp báo rất đông phóng viên nước ngoài. Dịp này, sư bà Diệu Huệ tuyên bố: “Sẽ tự thiêu noi theo gương của Hòa thượng Quảng Đức, để phản đối chính sách kỳ thị và ngược đãi của chính quyền Ngô Đình Diệm”.
Hơn 9 giờ, hơn 100 thương phế binh và quả phụ trương biểu ngữ kéo đến trước cổng chùa Xá Lợi, dùng loa phóng thanh đặt trên xe lam chõ vào chùa đọc lá thư được gọi là “Huyết lệ thư” với nội dung kêu van các vị tu hành nên lo Phật sự kinh kệ và “đừng mắc mưu Cộng sản thông đồng với ngoại bang cõng rắn cắn gà nhà”. Lá thư trên được đọc đi đọc lại nhiều lần, trong chùa các nhà sư và Phật tử vẫn tiếp tục đọc kinh gõ mõ, thỉnh chuông. 1 giờ thì số thương phế binh bắt đầu náo động, gặp đại diện của Ủy ban Liên phái để trao “Huyết lệ thư”.
Không được trả lời, họ đòi mở cổng chùa, sau đó tự động nhảy qua hàng rào vào bên trong tung truyền đơn.
Vụ biểu tình của thương phế binh và quả phụ lại tạo cho Ủy ban Liên phái có cơ hội để tạo tiếng vang chính trị. Đại đức Đức Nghiệp thảo văn thư lên án cuộc biểu tình này và cho rằng chính quyền không thành tín.
Qua văn thư gửi Tổng Thống Diệm, Ủy ban Liên phái lại quy lỗi cho phía Tổng Thống mà kỳ thực Tổng Thống Diệm không hề hay biết gì cả.
Khi Tổng Thống Diệm trên phi cơ bước xuống thì Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần chạy lại báo cáo ngay vụ biểu tình của thương phế binh và quả phụ. Diệm mặt đỏ như gấc, đập chiếc ba tong xuống sân năm bảy lần và nói như quát:
- Đứa nào làm như rứa? Ai biểu chúng nó làm như rứa?
Bộ trưởng Thuần thưa lại: “Làm như thế này con không biết phải trả lời ra sao với Ủy ban Liên phái”.
Diệm nổi giận hầm hầm đi vào phòng khách, không nói một lời.
Tại phi trường Diệm ra lệnh cho Bộ trưởng Thuần: “Cách chức nó ngay, bỏ tù”. Sự thực, lỗi không phải do Trung tá Chiêu. Cuộc biểu tình kể trên được sự đồng tình của Thiếu tướng Tư lệnh Vùng 3 nhưng cuối cùng Trung tá Chiêu lãnh đủ. Tổng Thống quyết định cách chức Trung tá Chiêu và phạt 40 ngày trọng cấm. Hôm sau Trung tá Nguyễn Ngọc Khôi Tư lệnh Lữ đoàn phòng vệ vào phòng Tổng Thống hết lời năn nỉ xin Tổng Thống khoan hồng cho Trung tá Chiêu. Ông Khôi trình bày đại ý: Đây chỉ là do sự quá hăng say phục vụ của Chiêu và ông Chiêu cũng là anh em trong nhà nên xin Tổng Thống miễn cho Chiêu khỏi bị phạt quá nặng như vậy và cũng xin Tổng Thống đừng cách chức Chiêu. Lúc đầu ông Diệm có vẻ xiêu lòng khòng sau đó giữ quyết định như cũ.
Trước đó Thiếu tướng Đính cũng vào dinh xin cho Chiêu nhưng Tổng Thống nhất định không tha thứ.
Sự tranh đấu của Phật giáo vẫn âm ỉ kéo đài đến ngày 20-8 tức là ngày Cảnh sát Chiến đấu được lệnh bố ráp các chùa Sài Gòn và toàn miền.
o O o
Việc Tổng Thống Ngô Đình Diệm cách chức Trung tá Chiêu tuy chứng tỏ sự thành tín của ông đối với Ủy ban Liên phái, nhưng tạo nên tinh thần bất mãn trong tinh thần phục vụ của cấp thừa hành. Trong khi đó, Ủy ban Liên phái vẫn không thừa nhận thành tín này và cho rằng, Diệm chỉ phạt Trung tá Chiêu một cách giả vờ và có cớ tuyên truyền rằng chính quyền vô tư và nghiêm trị thành phần vô kỷ luật. Ông Ngô Đình Nhu bất mãn và nói với cộng sự viên: “Ông cụ làm như vậy thì từ nay trở đi còn đứa nào dám hăng hái. Chiêu nó có tội gì mà phạt nó như vậy”. Vụ phạt và cách chức Trung tá Chiêu ông Nhu cho rằng: “Ông cụ chỉ làm cho họ (Ủy ban Liên phái) mỗi ngày càng thêm quá khích”.
Ngày 30-7, Ủy ban Liên phái tổ chức lễ chung thất cố Hòa thượng Quảng Đức với hàng ngàn Phật tử tham dự. Điều đáng kể là trong số Phật tử lại có rất nhiều vợ con của các nhân vật cao cấp trong chính quyền. Số người này trở thành những người hoạt động đắc lực trong việc thông tin, tạo dư luận và tác động tinh thần chồng và cha họ. Trong buổi lễ này dĩ nhiên lại có thuyết pháp. Ủy ban Liên phái đưa ra một bản tuyên ngôn mới xác định lập trường tranh đấu bất bạo động cho những mục tiêu thuần tuý tôn giáo. Bản tuyên ngôn viết: “Kể từ lúc phong trào Phật giáo đấu tranh cho năm nguyện vọng của Phật giáo Việt Nam Cộng Hòa phát khởi cho đến gần ba tháng, vẫn truớc sau như một là hoàn toàn thuần tuý tôn giáo…”
Trước đó Đại sứ Nolting tuyên bố với phái viên của hãng thông tấn UPI là “Ở Việt Nam không có vấn đề kỳ thị tôn giáo và ngược đãi Phật giáo đồ”. Phản ứng lại, ngày 1-8 Hòa thượng Thích Tịnh Khiết gửi điện văn qua Tổng Thống Kennedy với nội dung “Thay mặt toàn thể Phật giáo đồ miền Nam Việt Nam chúng tôi cực lực phản đối lời tuyên bố của Đại sứ Nolting qua hãng thông tấn UPI. Chúng tôi nghĩ rằng dân chúng Hoa Kỳ phải thấu rõ nỗi phẫn uất của Phật giáo đồ (chiếm đền tám mươi phần trăm dân số Nam Việt Nam). Lời tuyên bố của ông Nolting không phù hợp với sự thật thiện chí và sự hiểu biết của người Hoa Kỳ”.
Kể từ cuối tháng 7 cơ quan an ninh Phủ Tổng Thống cũng như Cảnh sát đặc biệt đã nắm được kế hoạch tự thiêu trường kỳ của Phật giáo tranh đấu, nhưng ngoài tài thánh cũng không có cách gì ngăn cản nổi. Ngoài ra, cơ quan an ninh còn nắm được kế hoạch riêng của Mặt trận Giải phóng miền Nam nhằm lũng đoạn cuộc tranh đấu của Phật giáo đòi quyền tự do bình đẳng tôn giáo, độc lập dân tộc.
Cuộc tranh đấu của Phật giáo lên như diều gặp gió và mỗi ngày càng tràn ngập bởi những “yếu tố ngoại tại”.
Ngày 4-8 tại Phan Thiết, trước dinh Tỉnh trưởng Bình Thuận, Đại đức Thích Nguyên Hương nổi lửa tự thiêu vào đúng lúc tan sở.
Đại đức Nguyên Hương mới 23 tuổi. Mấy giờ sau Tổng Thống Diệm được báo cáo nội vụ. Ông bỏ ăn cơm chiều và 1 giờ đêm lại thơ thẩn xuống vườn đi tản bộ ngắm trăng sao. Đó là điểm thành công của Ủy ban Liên phái, vì đã gây xúc động lớn ngay trong đầu não của chế độ. Hôm sau Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo lại phản đối chính quyền địa phương Bình Thuận vì đã cướp xác Đại đức Nguyên Hương. Bình Thuận là một trong mấy tỉnh miền Trung vốn bình lặng từ bao năm nay và đây cũng là nơi 30 năm về trước Tổng Thống ngồi ghế Tri phủ Hòa Đa rồi Tuần phủ Bình Thuận nơi mà Tổng Thống Diệm tự hào có nhiều Tổng lý trung thành với ông. Không khí tranh đấu ở Bình Thuận lại bốc bừng và dâng cao. Trọng tâm của Tỉnh giáo hội tại đây là nhằm vào việc Tỉnh trưởng, Trung tá Nguyễn Quốc Hoàng một giáo dân mà thân phụ ông (cụ án Mậu) vốn là bạn đồng liêu của Tổng Thống Diệm có hành động kỳ thị tôn giáo.
Một số trưởng ty vì tự ái. tôn giáo thay vì đứng về phía chính quyền theo vị trí của họ, thì họ lại âm thầm tham dự cuộc tranh đấu. Chính quyền địa phương phải hứng chịu trận đánh nội công ngoại kích. Nhưng không lấy được xác Đại đức Nguyên Hương thì cuộc tranh đấu đã trở nên vô hiệu. Mà chính quyền (nếu ai ở thế chính quyền cũng đều như vậy) phải có bổn phận đạt được sự vô hiệu hóa mọi cuộc tranh đấu của phe đối nghịch.
Chương 9 : Diễn tiến của một cuộc binh biến
Filed under: TÀI-LIỆU | Leave a Comment »
Duyên Anh: TRẠI TẬP TRUNG (Phần II-21)
Filed under: Duyên Anh, HỒI KÝ - BÚT KÝ | Leave a Comment »
Duyên Anh: NHÀ TÙ (Phần II-10…13)

Phần thứ hai:
THỐNG KHỔ NHẬP MÔN
(ĐỀ LAO GIA ĐỊNH)
-10-
Chuyến xe đời chập chùng hệ lụy đổ chúng tôi xuống một địa chỉ mới. Địa chỉ mới, với tôi. Với dân tộc tôi thì nó đã quen thuộc đến cũ mèm. Số 4 đường Phan Đăng Lưu, Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, là địa chỉ mới ấy. Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, không ai cần biết số 4 đường Chi Lăng, tỉnh Gia Định. Những kẻ biết nó đều bất hạnh. Vì nó khoác cái nhãn hiệu hãi hùng: Đề lao Gia Định. Read more »
Filed under: Duyên Anh | Tagged: Duyên Anh, nhà tù | Leave a Comment »
Duyên Anh: NHỮNG ĐỨA TRẺ THÁI BÌNH (Phần II -31..40)

|
Phần II: Vừa Biết Chớm Buồn |
- 31 -
Cái lồng chim nhỏ nhắn, xinh làm sao. Lồng đan như hình cái chuông ấy. Con chim cu gáy mới đẹp chứ. Đôi mắt nó hiền hiền là. Cổ nó có những điểm lấm chấm, y hệt công phét ti rắc trên đầu con gái. Cậu Nhị, đem nó từ làng Thanh Triều lên, cho Côn. Nó đã đi nửa ngày đò, xuôi theo dòng sông Trà Lý. Cậu Nhị bảo chim cu gáy nó hay xấu hổ lắm. Vì thế, muốn nó gáy thật nhiều, thật hay, phải lấy vải che kín cái lồng. Cậu Nhị thửa hai cái cóng sứ, đeo hai bên sà ngang. Read more »
Filed under: Duyên Anh, TRUYỆN DÀI - TIỂU THUYẾT | Leave a Comment »



